Thứ Ba, 10 tháng 7, 2007

BỆNH VIỆN Y H ỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM HỢP TÁC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI VỀ YHCT

Ađress:29 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội - Việt Nam
Tel: (84-4) 8.263.616-(84-4) 9.434.462 * Fax: (84-4) 8.229.353
Email: yhcotruyen@hinet.net.vn
Website: www.yhcotruyentw.org.vn


Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là bệnh viện đầu ngành về YHCT - Trung tâm hợp tác về y học cổ truyền (YHCT) của Tổ chức y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương. Bệnh viện có 22 khoa phòng, 2 trung tâm được chia thành 3 khối: lâm sàng, cận lâm sàng, và khối các phòng ban chức năng. Với đội ngũ các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II, chuyên khoa I và các bác sĩ giàu kinh nghiệm, bệnh viện là cơ sở điều trị, nghiên cứu, và giảng dạy về YHCT lớn nhất trong cả nước.

Bệnh viện có 420 giường bệnh (270 giường bệnh nội trú và 150 giường bệnh ngoại trú), có các khoa lâm sàng nội, ngoại, phụ, nhi, châm cứu dưỡng sinh, người có tuổi, hồi sức cấp cứu, v.v..., có đầy đủ các trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu khoa học.

Trong gần 50 năm qua kể từ khi thành lập, với chức năng và nhiệm vụ chính là kế thừa, phát huy và phát triển YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ trong điều trị và dự phòng, bệnh viện đã đạt được rất nhiều thành tựu trong phát triển YHCT. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và cơ sở nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc YHCT, nghiên cứu xây dựng qui trình bào chế và tiêu chuẩn hóa thuốc YHCT, nghiên cứu ứng dụng các phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc YHCT trong điều trị và dự phòng các bệnh thường gặp, các bệnh mạn tính, khó chữa...đã được thực hiện và được đánh giá cao tại nhiều hội nghị YHCT trong nước và quốc tế.

Với vai trò là trung tâm trao đổi thông tin trong và ngoài nước, hàng năm bệnh viện YHCT Trung ương xuất bản và phát hành tạp chí nghiên cứu Y dược học cổ truyền. Các chuyên gia và các bác sĩ của bệnh viện thường xuyên được cử đi nước ngoài để tham dự các hội nghị, hội thảo, giảng dạy, và nghiên cứu chuyên sâu. Bệnh viện cũng thường xuyên có nhiều chuyên gia, học sinh nước ngoài đến trao đổi kinh nghiệm, học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về YHCT Việt Nam.

Trong tiến trình phát triển, hội nhập YHCT với các nước trong khu vực và thế giới, bệnh viện đang từng bước hiện đại hóa trên cơ sở giữ vững bản sắc của YHCT, kết hợp tinh hoa của hai nền YHCT và YHHĐ góp phần phục vụ cho sức khỏe cộng đồng ngày một tốt hơn.

Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương là Trung tâm hợp tác duy nhất tại Việt Nam về YHCT của Tổ chức y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương từ năm 1988. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của Bệnh viện quan hệ hợp tác quốc tế không ngừng được củng cố và mở rộng. Bệnh viện có quan hệ hợp tác với trên 40 nước trên thế giới.

Lĩnh vực hợp tác:
- Hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi thông tin, trao đổi chuyên gia trong lĩnh vực YHCT.
- Tổ chức các hội thảo khoa học, tập huấn về YHCT và kết hợp YHCT với YHHĐ.
- Hợp tác trong công tác khám chữa bệnh.
- Huấn luyện giảng dạy cho học viên nước ngoài.
Đối tác:
- Văn phòng của tổ chức y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương
- Văn phòng đại diện của tổ chức y tế thế giới tại Hà Nội
- Các trung tâm hợp tác của tổ chức Y tế thế giới về YHCT.
- Các Viện nghiên cứu, bệnh viện, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các cá nhân.

NATIONAL HOSPITAL OF TRADITIONAL MEDICINE-WHO COLLABORATING CENTER FOR TRADITIONAL MEDICINE

The National Hospital of Traditional Medicine (TRM) is the leading hospital of traditional medicine for the whole country of Vietnam - a WHO (World Health Organization) collaborating centre for TRM in the Western Pacific Region. The hospital has 22 departments and two centers, divided in 3 sections: clinical, para-clinical, and functional section. With a cadre of respectable professors, PhDs, masters, level II-doctors, level I-doctors, and skillful doctors, the hospital is the biggest establishment for treatment, research, and training in TRM in Vietnam.
The hospital has 420 patient-beds (270 in-patient and 150 out-patient beds) and various clinical departments such as Internal Medicine, Surgery, Gynecology, Pediatrics, Acupuncture and Vitality Preservation, Geriatrics, ICU, etc. The hospital is equipped with synchronous and modern facilities, supporting the application of diagnosis and treatment clinically and evaluation of TRM scientifically.

With the key missions of inheritance and research for promoting the TRM utilization, In nearly 50 years, the hospital has made a great contribution to the cause of healthcare for people by the use of TRM, both its own and in combination with modern medicine. Many scientific researches at the State or Ministerial or Institute/Hospital level aimed to evaluate the efficacy and safety of herbal medicines; to set up processing protocols and methods of standardization of herbal medicines; to study for application of TRM non-medication and medication methods in treatment and prevention of common diseases, chronic and persistent diseases… were carried out and highly appreciated in TRM local and international conferences.

As a Center for information exchange, every year the National Hospital of Traditional Medicine publishes and distributes a research journal of traditional medicine and pharmacy. Many experts and doctors from the hospital have participated in the international scientific conferences or workshops or in some teaching and research collaboration programs in abroad. The hospital also constantly receives specialists, students coming from different countries to exchange information, to learn and study Vietnamese traditional medicine.

The hospital gradually takes steps to modernize TRM based on the preservation of the national nature of TRM, combining the advantages of both TRM and modern medicine, to contribute to the work of healthcare for community effectively.


The National Hospital of Traditional Medicine has been designed as a WHO collaborating center for TRM in Vietnam since 1988. In past years, along with the development of the hospital international relations have been strengthened and expanded. The hospital has cooperation relations with over 40 countries in the world.

Fields of cooperation:

- Collaborating in scientific research and in exchange of information and specialists in the field of traditional medicine.
- Organizing workshops, training courses in TRM and TRM combined with modern medicine.
- Providing TRM courses for students coming from oversea countries.
- Working in collaboration with foreign specialists in diagnosis and treatment.
Partners:
- WHO office in the Western Pacific Region.
- WHO representative office in Hanoi and WHO collaborating centres for TRM.
- Research institutes, hospitals, international organizations and associations, NGOs, and interested individuals.



Nguồn: Lấy từ Website BV YHCT TW www.yhcotruyentw.org.vn

HOA LĂNG TIÊU

有木名淩霄
擢秀非孤標
Hữu mộc danh Lăng Tiêu
Trạc tú phi cô tiêu…
(Có cây tên Lăng Tiêu,
Đẹp đẽ đứng dựa vào nhau…)


Câu thơ trong bài Lăng Tiêu Hoa của Bạch Cư Dị khiến người ta nhớ đến một loài hoa tuy nhỏ bé thôi mà hữu ích. Trong bài thơ, tác giả đã “ Nhắn gửi với người lập thân, không nên học theo giống hèn yếu ấy” (Ký ngôn lập thân giả, vật học nhu nhược miêu). Thế nhưng xét về mặt y học, loài người chúng ta đã phải cảm ơn nó rất nhiều.
Sách cổ chép rằng Lăng tiêu vị chua tính lạnh, hoa làm lương huyết, chống ứ. Rễ và cành có công dụng trừ phong hoạt huyết, tiêu thũng giải độc. Lá có công dụng trị ung thũng (臃腫). Từ lâu trong dân gian đã biết đến khoảng bắt đầu tháng 6 cho đến 2 tháng sau là mùa có thể thu hoạch hoa Lăng Tiêu. Đến những ngày này, người nông dân chọn hái những hoa đã nở lớn, phơi khô và đem cẩt. Rễ và cành thu hoạch vào mùa thu rồi đem sao vàng làm thuốc. Thông thường hoa Lăng Tiêu thường có những ứng dụng như sau:
Viêm dạ dày ruột cấp tính: Rễ Lăng Tiêu 30 g, gừng tươi 3 lát, sắc uống hằng ngày.

Lỵ cấp tính, viêm gan vàng da: Rễ và lá Lăng Tiêu mỗi thứ 15 g, sắc uống.

Đại tiện ra máu tươi: Hoa Lăng Tiêu ngâm rượu uống.

Đau bụng nổi cục do co thắt dạ dày, ruột: Hoa Lăng Tiêu 60 g, đương quy 30 g, nghệ đen 30 g. Tất cả sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 g.

Chảy máu cam: Hoa Lăng Tiêu rửa thật sạch, nghiền nát, vắt lấy nước cốt, nhỏ mũi.

Trứng cá đỏ: Hoa Lăng Tiêu, mật đà tăng lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, bôi vào nơi tổn thương hoặc dùng hoa Lăng Tiêu 9 g, chi tử 9 g tán bột uống hằng ngày.

Bế kinh: Hoa Lăng Tiêu khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6 g với nước cơm ấm. Hoặc hoa Lăng Tiêu 12 g sắc kỹ lấy nước bỏ bã, hòa thêm 12 g a giao nướng phồng, uống cùng một chút rượu vang.

Kinh nguyệt không đều: Hoa Lăng Tiêu 9 g, hoa hồng 9 g, ích mẫu thảo 15 g, đan sâm 15 g, hồng hoa 6 g, sắc uống.

Khí hư: Rễ Lăng Tiêu tươi 30 g, đại kế tươi 15 g, trứng gà 1 quả, sắc kỹ, uống nước ăn trứng.

Rong kinh: Hoa Lăng Tiêu khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3-6 g với nước ấm hoặc rượu nhạt.

Viêm loét âm đạo: Hoa Lăng Tiêu lượng vừa đủ, sắc lấy nước ngâm rửa.

Trẻ em đi lỏng: Rễ hoặc lá Lăng Tiêu tươi 9-15 g, vỏ gừng 1,5 g, sắc uống.

Nấm da: Hoa Lăng Tiêu tươi 60 g, rễ tươi 30 g, lá tươi 15 g. Tất cả giã nát đắp lên tổn thương.

Rắn cắn: Rễ Lăng Tiêu tươi 125 g sắc với rượu uống. Bên ngoài dùng rễ tươi giã nát đắp vào vết cắn.

Bỏng: Rễ Lăng Tiêu lượng vừa đủ, mài với nước thành dạng hồ rồi đắp vào tổn thương, mỗi ngày 3-4 lần.

Gãy xương: Vỏ rễ Lăng Tiêu tươi và vỏ rễ thanh táo (tiếp cốt thảo nam) lượng bằng nhau, giã nát, sao nóng với rượu, để nguội bớt rồi bó vào chỗ xương gãy.

Bong gân: Dùng lá hoặc hoa Lăng Tiêu tươi 2 phần, tôm đồng tươi 1 phần. Hai thứ giã nát, sao nóng, đắp vào nơi tổn thương.

Ngoài ra, Bệnh nhân nổi mề đay có thể dùng hoa Lăng Tiêu 9 g sắc uống và 30 g nấu nước ngâm rửa. Cũng có thể dùng hoa này để điều trị bệnh chàm: Hoa Lăng Tiêu khô tán bột, trộn với một chút phèn phi, rắc lên tổn thương”.

CHÚ Ý: Những người có thể chất suy nhược, khí huyết hư yếu và phụ nữ có thai không được dùng Lăng Tiêu.


Nguyễn Hạnh
(Theo tài liệu Đông Y)

9 ĐIỀU Y HUẤN CÁCH NGÔN

Hải thượng Lãn Ông là một y học gia nổi tiếng của dân tộc ta. Nếu ở Tây Phương người ta biết đến những lời thề của Hipocrat thì ở Việt Nam những người làm thuốc thường nhắc nhở cho nhau 9 điều y huấn cách ngôn.

Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hóa, thu nhập được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không phạm sai lầm.
Được mời đi thăm bệnh : nên tùy bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả.
Khi xem bệnh cho phụ nữ, góa phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.
Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"
Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn.
Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẳn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.
Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.

Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.
Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là 1 nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu : "Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng" đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng" Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp : bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!".


Đại Y Tôn Hải Thượng Lãn Ông.
Nguyễn Hạnh bất tức kính sao

ĐIỀU KỲ DIỆU VỀ CHIẾC ÁO DÀI Ả RẬP

Vào mùa hè, nhiệt độ trong sa mạc tại Ả Rập có khi lên tới 40-500C, vậy mà những người dân ở đây vẫn ung dung trong chiếc áo dài dày dặn trùm kín người như không hề có chuyện gì xảy ra cả.



Đã từng có một người khách quyết định tự mình thử mặc loại áo này. Để có những thực nghiệm mang tính chất khoa học, đầu tiên ông ta mặc một chiếc áo sơ mi mỏng và một chiếc quần cộc rồi đi dạo trên sa mạc. Điều xảy ra là ông ta nhanh chóng không thể chịu được sức nóng kinh người này. Sau khi thay chiếc áo Ả Rập vào thì cảm giác dễ chịu mát mẻ khó tả hồ như truyền khăp cơ thể. Việc mặc một chiếc áo dài lại mát hơn mặc một chiếc áo ngắn là một điều khó tin, nhưng kì thực bên trong lại chứa đựng một nguyên lí khoa học đầy thuyết phục.

Áo dài Ả Rập vốn là thứ áo rất rộng và dày, có thể che kín toàn thân, khi gió thổi từ bên ngoài vào trong cơ thể, có thể lùa vào khắp nơi, tạo nên một hiệu ứng gọi là” Ống thông khói”, khiến cho hơi ẩm thoát đi môt cách dễ dàng. Đồng thời, với độ dài rộng như thế, chiếc áo giúp cho chúng ta cản được những tia nắng chiếu vào bề mặt da của cơ thể, lượng không khí có trong chiếc áo vô hình chung như là một lớp cách nhiệt lí tưởng tạo ra sự mát mẻ, sảng khoái. Một nhà tạo mẫu người Ả Rập Saudi cho rằng, đặc điểm thiết kế chính là một yếu tố rất tốt trong việc điều tiết dòng đối lưu không khí trong áo.

Cái gọi là dòng đối lưu không khí trong áo chính là sự tương quan giữa nhiệt độ không khí bên ngoài và bên trong cơ thể. Bất kể là mùa đông hay mùa hè, nhiệt độ thích hợp nhất trên bề mặt da bình quân là 33oC, trong khi đó nhiệt độ trong áo là từ khoảng 31-33oC, như vậy tỉ lệ tương đối là 40%/60%. Nếu như dòng đối lưu không thích hợp, sẽ khiến cho việc điều tiết nhiệt độ thân thể của trung khu thần kinh bị căng thẳng, dẫn đến các hệ thống khác trong cơ thể cũng rối loạn, xuất hiện cảm giác nóng nực, mệt mỏi, hồi hộp, choáng váng.v.v…

Những người Ả Rập sống trong những vùng khí hậu á nhiệt đới vì muốn tạo ra dòng đối lưu không khí lí tưởng trong cơ thể, thường chọn những loại vải có khả năng hút ẩm và tản nhiệt tốt như vải gai, tơ lụa, bông v.v…Màu sắc của áo thường là những màu nhạt, ví dụ như màu trắng, lam nhạt hoặc xanh lá cây…nhằm giảm thiểu tối đa sự hấp thu nhiệt lượng. Tiêu chuẩn của việc thiết kế thường lấy số đo dài rộng của vạt áo, cổ áo và cổ tay làm đầu. Việc này nhằm tăng thêm việc điều tiết đối lưu không khí, mạnh thêm hiệu ứng “Ống khói” như đã nói ở trên.

Thực sự những chiếc áo dài Ả Rập đã trở thành loại trang phục lí tưởng trong điều kiện khí hậu nóng nực ít mưa của vùng sa mạc rộng lớn, khắc nghiệt.

Nguyễn Hạnh (Từ báo nước ngoài.

MỘT SỐ THÀNH NGỮ HÁN VIỆT THƯỜNG DÙNG

Dưới đây là một số thành ngữ hay dùng trong tiếng Trung, hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc của văn hoá Hoa Hạ cổ đại. Mỗi thành ngữ đều liên quan đến một câu chuyện trong những tác phẩm nổi tiếng. Tuy 29 thành ngữ chỉ là một con số rất nhỏ nhưng hy vọng sẽ đem đến cho mọi người một cái nhìn về đất nước Trung Hoa vĩ đại, huyền bí.

1. 不知人間有羞耻事 Bất tri nhân gian hữu tu sỉ sự: Không biết xấu hổ. Xuất xứ từ Âu Dương Văn Trung tập- Dữ Cao Tư gián thư. Trong đó có đoạn: “Hôm qua An Đạo bị biếm chức, Sư Lỗ phải chờ xử tội, thế mà túc hạ còn đi gặp gỡ các bậc sĩ đại phu, nghênh ngang trong triều, xưng là giám quan, thế có nghĩa là túc hạ không biết xấu hổ vậy”. Đây là thành ngữ Trung Quốc thường dùng để chê bai, quở trách những hạng người vô liêm sỉ, không còn biết xấu hổ là gì nữa.

2. 不自量力 Bất tự lượng lực: Không biết tự lượng sức mình. Xuất xứ từ Chiến quốc sách, phần Tề sách, có đoạn: Thuần Vu Khôn đến nước Tề. Vua hỏi: “ Sao lại gặp ở Kinh?”. Khôn đáp: “Nước Kinh rất mạnh, mà nước Tiết lại không tự lượng sức mình”. Đây là thành ngữ chỉ những người, những hành động biểu hiện tự trong bản thân một cá thể không tự đánh giá được khả năng của chính mình.

3. 不为五斗米折腰 Bất vị ngũ đấu mễ chiết yêu: Xuất xứ từ Tấn Thư, truyện về Đào Uyên Minh, trong đó có đoạn: “ Tiềm than rằng: Ta không thể vì năm đấu gạo mà khom lưng, chỉ tha thiết làm hạng tiểu nhân trong thôn xóm mà thôi!”. “Năm đấu gạo” chỉ bổng lộc ít ỏi của quan lại. Khom lưng hành lễ là khuất mình thờ người. Thành ngữ này chỉ hành động của những con người thanh cao, không vì mưu sinh tầm thường mà chịu luồn nhục nhã.

4. 髀肉复生 Bễ nhục phục sinh: Xuất xứ từ truyện Tam Quốc chí quen thuộc. Trong đó có lần Lưu Bị nói: “ Ta thường thân không rời yên ngựa, thịt đùi chai lại. Nay không được cưỡi nữa. Thịt đùi béo xệ ra. Đây là thành ngữ chỉ sự ăn không ngồi rồi, nhàn rỗi quá lâu không chịu vận động, khiến thân thể phì nộn ra.

5. 病入膏肓 Bệnh nhập cao hoang: Bệnh tình nguy kịch, vô phương cứu chữa. Xuất xứ từ Tả truyện: “Bệnh nặng lắm rồi không thể chữa được, vào đến trên hoang (lớp màng trong cơ thể), dưới chỗ cao (màng nhờn trong cơ thể), như vậy là không thể trừ được, thuốc không tới được, không làm gì nổi”. Cao hoang là hai màng ở giữa hoành cách mô và tâm, thuốc không thể vào tới nơi được. Sau này dùng từ Bệnh nhập cao hoang chỉ bệnh tật vô phương cứu chữa, cũng chỉ sự việc đến tình thế không thể cứu vãn được nữa.

6. 疲于奔命 Bì vu bôn mệnh: Mệt mỏi rã rời. Từ dùng trong Tả truyện. Bôn mệnh là vâng mệnh đi thực hiện nhiệm vụ. Đây là thành ngữ chỉ người quá bận rộn mà kiệt sức mêt mỏi.

7. 变生肘腋 Biến sinh trửu dịch: Tai họa ngay dưới nách. Xuất xứ từ truyện Tam Quốc Chí: “ Gần thì có Tôn phu nhân sinh biến ở ngay dưới nách”. Dưới nách là chỉ nơi rất gần. Thành ngữ chỉ tai họa không phải ở xa xôi mà ở rất gần, gần như để ngay dưới nách vậy.

8. 別开生面 Biệt khai sinh diện: Mở ra một cục diện mới. Xuất xứ từ bài thơ Đan thanh dẫn tặng Tào tướng quân Bá: Lăng Yên công thần thiểu nhan sắc, tướng quân há bút khai sinh diện ( Lăng Yên công thần màu sắc nhạt, tướng quân phóng bút lại mới tinh). Khai sinh diện nguyên nghĩa chỉ một bức tranh ảm đạm nhưng lại có sức hút, bỗng chốc rực rỡ. Sau này để chỉ phong cách hay cục diện mới.

9. 別无长物 Biệt vô trường vật: Không có vật nào thừa cả, việc nào vào việc ấy. Xuất xứ từ Lưu Nghị Khánh triều nam Tống. Trường vật chỉ những đồ vật dư thừa. Câu thành ngữ này có ý nói các đồ vật đều có ích dụng, không một vật nào sinh ra trên thế gian này là thừa cả.

10. 兵不血刃 Binh bất huyết nhẫn: Gươm chưa dính máu. Xuất xứ từ Tuân tử- Nghị binh: “ Gươm không dinh máu mà xa gần đều qui phục”. Thành ngữ chỉ sự giành thắng lợi một cách nhanh chóng.

11. 兵不厌诈 Binh bất yếm trá: Việc binh tha hồ dối trá. Xuất xứ từ Hàn Phi Tử- Nan nhất: “ Trong chiến trận, tha hồ dối trá. Thành ngữ chỉ việc trong đạo dùng binh có thể dùng mọi cách kể cả nói dối để giành phần thắng. Còn có thể dị bản là Binh bất yếm quyền trong đó Quyền là quyền nghi, quyền biến, tuỳ lúc, tuỳ nơi hay tuỳ việc mà áp dụng linh hoạt các phương pháp biến thông mà thủ thắng.

12. 兵貴神速 Binh quí thần tốc: Tôn tử- Cửu địa: “Việc binh quí ở thần tốc. Đây là châm ngôn cho việc dùng binh. Dùng binh phải thần tốc, khiến kẻ địch khó lường trở tay không kịp.

13. 赔了夫人又折兵 Bồi liễu phu nhân hựu chiết binh: Mất cả chì lẫn chài. Xuất xứ từ truyện Tam Quốc diễn nghĩa, hồi thứ 55: “ Chu Lang diệu kế an thiên hạ, bồi liễu phu nhân hựu chiết binh.” ( Chu Lang bày kế yên thiên hạ, vừa mất phu nhân lại tổn binh). Bồi là tiền vốn mua bán; “Chiết” là thiệt hại; “Chiết binh” là hao binh tổn tướng. Đây là thành ngữ ý nói muốn chiếm lợi thế, nhưng lại bị tổn thất gấp bội.

14. 背城借一 Bối thành tá nhất: Quay lưng vào thành mà quyết một trận sống mái. Tả truyện: “ Thỉnh thu hợp dư tẫn, bối thành tá nhất”. ( Xin thu thập toàn quân, quyết chiến một trận). “Bối thành” là lưng đối diện với tường thành, ý nói không còn đường lui. “Tá nhất” là quyết chiến một trận cuối cùng. Thành ngữ này ý chỉ quyết tâm chiến đấu một trận cuối cùng để thoát ra khỏi nguy hiểm.

15. 蓬生麻中,不扶自直 Bồng sinh ma trung, bất phù tự trực: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Xuất xứ từ Tuân tử: “ Bồng sinh ma trung, bất phù tự trực”. ( Cỏ bồng mọc lẫn cây đay, không đỡ vẫn thẳng). Bồng là một loại cỏ; Ma là cây đay, cây gai, là cây mọc thẳng, thân dài mà nhỏ. Thành ngữ trên mang ý nghĩa cỏ bồng mọc trong bụi đay, không cần đỡ vẫn thẳng. Thời xưa dùng chỉ những người sống giữa những người tốt ắt sẽ tốt hơn.
16. 各得其所 Các đắc kì sở: Ai yên phận nấy. Lời trong kinh Dịch- Hệ từ hạ; Hán thư Đông Phương Sóc truyện: “ Thế là từ đấy trong thiên hạ, dân chúng ai yên phận nấy.” Vốn thành ngữ này chỉ ai nấy đều thoả mãn nguyện vọng của mình. Sau chỉ người nào cũng đều được sắp đặt đúng chỗ.”.
17. 改弦易辙 Cải huyền dịch triệt: Đàn so lại dây, xe đổi lối cũ, ý thay đổi triệt để. Trong Dã Khách tùng thư- Trương Đỗ Giai hữu hậu của Vương Thụ đời Tống: “ Khiến cho con cháu ông đã “ Cải huyền dịch triệt”, chú trong khoan hậu, việc đó đủ để lấp được cái sai trước của người cha”. Dịch là thay đổi; Triệt là bánh xe, ở đây là con đường. Thành ngữ này ý chỉ sự thay đổi triệt để hoàn toàn lại phương hướng, kế hoạch hay cách làm trước.”.
18. 改过自新 Cải quá tự tân: Sửa sai đổi mới. Xuất xứ từ Sử kí- Biển Thước Thương Công liệt truyện: “ Tuy muốn sửa sai đổi mới, nhưng không được nghe theo, cuối cùng chẳng thể được”. Tự tân là biến mình thành người mới. Thành ngữ này ý là hối cải sai lầm, làm lại cuộc đời.
19. 感激涕零 Cảm kích thế linh: Cảm động rơi lệ. Trong Bình Thái hành của Lưu Vũ Tích có câu: “ Bên đường người già nhớ truyện cũ, nhìn nhau cảm kích lệ tuôn trào ( Lộ bàng lão nhân ức cựu sự, tương dữ cảm kích giai thế linh).
20. 高屋建瓴 Cao ốc kiến linh: Thế như trút nước,thế như chẻ tre. Xuất xứ từ Sử kí- Cao tổ bản kỉ: “ Tần trung địa thế tiện lợi, nếu đem quân xuống đánh với chư hầu thì có thế như người đứng trên nhà mà đổ chậu nước từ trên xuống, thế không ngăn được ( Cao ốc kiến linh)”. “Cao ốc kiến linh” là dội bình nước từ trên cao xuống, như thế thì có gì cản nổi không?
21. 高山流水 Cao sơn lưu thuỷ: Núi cao nước chảy, tri âm tri kỉ. Xuất xứ từ Liệt tử- Thang vấn thiên: “ Bá Nha gảy đàn nghĩ đến núi cao. Chung Tử Kì nói: “ Hay quá! Chót vót như núi Thái Sơn!” Bá Nha gảy đàn nghĩ đến nước chảy, Chung Tử Kì lại nói: “ Hay quá! Mênh mông như sông dài!” Thành ngữ chỉ bạn tri âm tri kỉ, cũng ví với khúc nhạc kì diệu.
22. 锦囊妙计Cẩm nang diệu kế: Kế sách kì diệu. Xuất xứ từ Tam quốc diễn nghĩa- hồi thứ 54: “ Khổng Minh bèn gọi Triệu Vân đến bên ghé vào tai mà dặn dò: Chuyến này nhà ngươi bảo hộ chúa công sang Đông Ngô nên mang theo ba chiếc túi gấm này, trong túi đựng ba diệu kế, cứ theo thứ tự mà làm!” Cẩm nang là các văn kiện cơ mật, hoặc túi lụa đựng thi cáo. Thành ngữ chỉ kế sách hay trong túi gấm. Ngày nay chỉ những biện pháp hay, kịp thời giải quyết những vấn đề cấp bách.
23. 噤若寒蝉 Cấm nhược hàn thiền: Câm bặt như ve sầu mùa đông, miệng câm như hến. Theo Hậu Hán thư-Đỗ Mật truyện”: Lưu Thắng là quan đại phu, nhưng biết người tài mà không tiến cử, thấy người ác mà không dám nói, chỉ mong bình an vô sự, như con ve sầu ngủ đông, như vậy là kẻ có tội!”
24. 近水楼台 Lâu đài gần nước: Xuất xứ từ Thanh Dạ lục của Du Văn Báo đời Tống: “Gần nước lâu đài trăng dọi trước, hướng dương hoa cỏ dễ xuân về” ( Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, hướng dương hoa mộc dị vi xuân). Thành ngữ ví những người sống gần, ơ gần dễ có điều kiện ưu tiên, cũng dùng để chỉ những ai đó lợi dụng địa vị của mình mà có được lợi ích ưu tiên nào đó. Sau hàm ý xấu, chê bai.
25. 篝 火狐鳴 Câu hoả hồ minh: Đốm lửa trong lồng làm giả tiếng cáo: Xuất xứ từ Sử kí- Trần Thiệp thế gia: “ Lại ngầm sai Ngô Quảng đến ngôi đền ở cạnh, cây cối um tùm, đang đêm thắp đèn lồng, giả tiếng cáo kêu rằng: “ Nước Sở nổi lên, Trần Thắng làm vua”. Thành ngữ này chỉ đốm lửa đặt trong lồng, ánh sáng mập mờ như lửa ma trơi, đồng thời lại giả tiếng cáo kêu. Vốn nghĩa là giả tiếng kêu của cáo để phát động khởi nghĩa.
26. 求田问舍 Cầu điền vấn xá: Mua ruộng tậu nhà. Xuất xứ từ Tam quốc chí- Ngụy thư- Trần Đăng truyện: “ Bị nói: “ Ông có danh vọng quốc sĩ. Nay thiên hạ đại loạn, ngôi vua đương nguy, mong ông lo nước quên nhà, nuôi chí cứu đời. Nhưng ông chỉ lo tậu ruộng mua nhà, lời nói tầm thường, nên bị Nguyên Long chê trách vậy”. Xá là căn phòng. Cầu điền vấn xá chỉ việc mong muốn mua ruộng tậu nhà. Hình dung với việc người chỉ biết tích cóp của cải mà không có chí lớn.
27. 狗尾续貂 Cẩu vĩ tục điêu: Đuôi chó thay chồn; Khố tải vá áo vóc; Đầu voi đuôi chuột. Xuất xứ từ Tấn thư- Triệu Vương Luân truyện: “ Lông đuôi chồn không đủ, thay bằng đuôi chó vậy”. Điêu là loại chồn có lông rất quí, thời cổ đại người hầu theo vua thường dùng đuôi của nó làm mũ. Thành ngữ này nguyên nghĩa châm biếm việc phong tước quá lạm. Sau chuyển nghĩa chỉ việc thay cái sau tồi hơn cái trước, trước sau không tương xứng với nhau.
28. 枕戈待旦 Chẩm qua đãi đán: Gối giáo đợi sáng. Xuất xứ từ Tấn thư- Lưu Côn truyện: “ Ta gối giáo đợi sáng, chí quyết diệt giặc, chỉ e Tổ Địch vung roi trước ta mà thôi”. Qua là một loại vũ khí thời xưa, ở Việt Nam gọi là cây giáo. Đán là trời sáng. Thành ngữ ý nói gối giáo đợi trời sáng, chí quyết diệt giặc, ví với ý quyết tâm tha thiết diệt giặc báo đền ơn nước, một giây khắc cũng không ngơi nghỉ.
29. 振臂一呼 Chấn tí nhất hô: Xuất xứ từ văn tuyển- Lý Lăng- đáp Tô Vũ thư: “ Nhưng Lý Lăng vẫn vung tay hô lớn, vết thương lại vỡ ra”. Thành ngữ trên có ý nghĩa là vung tay hô lớn, mong hiệu triệu mọi người.

Nguyễn Hạnh (Sưu tầm)

TỪ MỘT CÂU THÀNH NGỮ

Trong kho tàng thành ngữ Trung Hoa, Câu hoả hồ minh 篝火狐鳴( Đốm lửa trong lồng giả làm tiếng cáo) là một thành ngữ khiến nhiều người phải lưu tâm để ý.



Trong kho tàng thành ngữ Trung Hoa, Câu hoả hồ minh 篝火狐鳴( Đốm lửa trong lồng giả làm tiếng cáo) là một thành ngữ khiến nhiều người phải lưu tâm để ý. Điều đáng nói là ở đây việc giải nghĩa hoàn toàn tức cười nếu người đọc chỉ dựa vào nghĩa đen khi dịch. Thế nào là Trong lồng đốm lửa giả tiếng cáo. Hãy lần mở sách xưa mới thấy cái thâm ý người xưa, cái thâm ý lồng vào cả một nghệ thuật mà bây giờ hậu thế vẫn coi là cẩm nang muôn đời.
Đọc sách Sử kí- Trần thiệp thế gia có đoạn: “ Lại ngầm sai Ngô Quảng đến ngôi đền bên cạnh, cây cối um tùm, đang đêm thắp đèn lồng, giả tiếng cáo kêu rằng: “ Nước Sở nổi lên, Trần Thắng làm vua”.
Lời nói này khiến ai biết chữ Hán đều nhớ đến câu 黎利為君,阮廌為臣 ( Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi) trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Thực ra không phải đợi đến thời kì Lam Sơn, trong công cuộc phá Tống lần thứ hai, danh tướng Lí Thường Kiệt đang đêm cũng đã sai người chui vào đền giả làm tiếng thần linh phán bảo qua bài thơ:
南國山河南帝居
截然定分在天書
如何逆虜來侵犯
汝等行看守敗虛.
Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?!
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?!
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Quả nhiên bài thơ thần đó đã có tác dụng, nâng cao sĩ khí ba quân, trận đó ta chuyển nguy nan thành lợi thế, giữ vững phòng tuyến sông Như Nguyệt.
Như vậy, chỉ là lời nói đơn thuần mà ngầm chứa sức mạnh thần kì. Tất cả mọi người không hiểu nổi nhưng đều công nhận điều đó.
Trong cuốn Binh thư yếu lược - quyển II có chỉ ra rõ ràng rằng: “ Điều cốt yếu để đánh được địch không phải là chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; Hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó mà để cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị lừa”.
Điều 13, phép dạy quân đánh giặc trong Hổ Trướng khu cơ lại răn rằng: “ Quân gian thường biến trá nhiều mối, cần phải xem xét, phàm tế tác gian dối, làm cho lòng quân sinh biến, tất là trong có cơ mưu. Hoặc dùng văn tự chế nhạo, hoặc lấy cây cỏ làm điềm tin, hoặc dùng ngôn ngữ làm thí dụ, hoặc dùng tiếng chim muông, các cơ mưu ấy là đáng sợ…”
Những lời cáo huấn trên cho hậu nhân chúng ta thấy rằng việc dùng binh nói riêng, mọi việc nói chung muốn đoạt thắng lợi không nhất thiết phải dùng đến sức mạnh. Đôi lúc từ những nội dung rất bình thường nhưng với những động tác nào đó sẽ đi đến những kết quả không ngờ. Hàm chứa trong những kiến thức hiển hiện là những sức mạnh ngầm của hư ảo.
Từ đốm lửa trong lồng phát ra tiếng nói, những chiếc lá kiến cắn thành chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, đến bài thơ phát ra trong đền như lời thần phán bảo của danh tướng Lí Thường Kiệt… tất cả đều dùng biện pháp hư ảo, thần thánh hoá, đánh vào tâm lí hoang mang của đối phương, khiến chúng vừa hãi cái uy, sợ cái hư, khó tìm cái thực.
Nghệ thuật tâm lí chiến của cổ nhân rõ ràng mà tinh tế, tưởng hồn nhiên mà lại cao sâu huyền ảo vô chừng. Nghệ thuật đó còn để lại dấu vết trong kho thư tịch cổ mà câu thành ngữ trên là một ví dụ đáng nói.

Nguyễn Hạnh.

CHUYỆN VỀ BỨC TƯỢNG DAVID

500 năm trước, Michelangelo dựa vào nguyên mẫu của người đã giết chết gã khổng lổ Goliat trong kinh thánh, sáng tác ra bức tượng David nổi tiếng thế giới. Từ sau khi được trưng bày tại fronsa, triển lãm Ofejii lại náo nhiệt trở lại, mỗi năm đều đầy ắp khách tham quan.



Một lần, một trung niên 40 tuổi người Anh nghe tiếng tới thăm, khi vừa buông hành lí liền lập tức chạy đi tìm bức tượng. Mặc dù đã được nghe nhìn nhiều lần qua đài báo và các thông tin đại chúng, nhưng khi mục kích bức tượng tận mắt, người ta thấy hiện lên trong con mắt của anh niềm đam mê cháy bỏng, đờ đẫn như mất hẳn tri giác bình thường.
Sau đó có những người khách đến từ Âu Mỹ đã từng ngất xỉu dưới chân bức tượng chàng David, gây sửng sốt cho chính quyền sở tại. Thiên hạ bắt đầu đổ xô vào nghiên cứu vấn đề này. Qua một năm nỗ lực miệt mài, thì ra bức tượng David có khả năng làm cho con người ta mê mẩn đến điên dại và cuồng say, khiến có thể ngã nghiêng ngã ngửa. Người ta đã từng gọi hội chứng này là “Hội chứng Đa vít”.
Nước Việt Nam ta có bề dày lịch sử dài 4000 năm, có để lại cũng nhiều vẻ đẹp nhân văn cũng như tự nhiên, thế nhưng sao chưa bao giờ nghe thấy những hội chứng đại loại như ”Hội chứng Vịnh Hạ Long”, “Hội chứng Phật bà nghìn tay nghìn mắt”, “Hội chứng tháp Chàm”.v.v…
Thiết nghĩ, vấn đề không phải là có hay không có di sản, nhiều hay không nhiều vẻ đẹp, mà vấn đề ở đây là chúng ta có biết bảo vệ trân trọng vốn quí dân tộc, thưởng thức và tự giới thiệu cho bạn bè thế giới hay không!

Nguyễn Hạnh.