Thứ Hai, 9 tháng 7, 2007

VÕ THUẬT DÂN TỘC BĂNG LONG

Võ thuật dân tộc Băng Long.




Là một tộc người sinh sống tại địa khu Vân Nam, thời cổ được gọi là Bộc Nhân (濮人). Trong thư tịch đời Đường có ghi lại các bộ tộc Mường Mán, chính là thuỷ tổ của dân tộc Băng Long vậy.



Dân tộc Băng Long bản tính vũ dũng thượng võ, học võ thuật theo kiểu cha truyền con nối. Băng Long tộc tự gọi lối võ thuật của mình là Tả Quyền ( Cú đấm tay trái). Điều này rất giống trong Boxing rằng khi thượng đài, cú đấm tay trái sẽ luôn được coi trọng, được tung ra cuối trận đấu lúc đối thủ mệt mỏi và bất cẩn. Cho nên mà người đời thường hay nói: “ Cú đấm tay trái quyết định thắng thua” là vì vậy.

Võ thuật của dân tộc Băng Long thường thủ thế cao nhằm tiện lợi cho việc tấn công và thoái hậu . Đồ hình luyện tập cũng thường theo đường thẳng , xoay mình rồi lại theo đường thẳng tiến thoái mà thôi . Họ cũng hay dùng các nhạc khí như thanh la , trống để trợ hứng lúc đi quyền , tạo nên hứng thú luyện tập.

Vũ khí của dân tộc Băng Long chủ yếu là Đao. Đao của người Băng Long , hình dáng đẹp đẽ, chủng loại phong phú , dài ngắn khác nhau , lưỡi dao thẳng có rãnh thoát máu , trên rộng bản dưới hẹp, mũi dao lệch . Cán thường làm bằng ba loại nguyên liệu là gỗ, xương và sừng . Đây là một công cụ sản xuất , lại là một thứ vũ khí , kích thước và hình dáng tựa như trái lựu đạn , nặng khoảng 0,5kg , một đầu buộc vào sợi dây thừng nhỏ dùng khi chiến đấu có thể buộc vào tay, tiện lợi che giấu nơi cổ tay, xuất kì bất ý đả thương đối thủ .

Võ thuật đã giúp dân tộc Băng Long rất nhiều trong công cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và xâm lược. Cụ thể như mùa đông năm 1944, khi quân Nhật vượt qua sông Nộ, vùng thung lũng núi Cao Lê, một thanh niên Băng Long đã dùng đao thuật của dân tộc mình chém chết ba tên lính Nhật lạc đơn vị .



Trịnh Vân Hải
(Theo tư liệu võ thuật Trung Quốc, loạt bài về võ thuật các vùng dân tộc thiểu số).

TAEKWONDO

Taekwondo-niềm tự hào của người Hàn Quốc.


Taekwondo hay còn được gọi dưới nhiều cái tên như Thái Cực Đạo, Túc Quyền Đạo và gần đây là Đài Quyền Đạo, một trong những môn võ phổ biến nhất, có số môn sinh lên đến hàng triệu người.




Sang Hàn Quốc, người ta thường thấy những cao thủ môn võ này thi triển những công phu chặt gạch đá bay, đòn thế đơn giản, tốc độ nhanh chóng và hiệu quả, xứng đáng là một môn tự vệ cho quần chúng. Taekwondo có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá, thể chất cũng như tinh thần của người Hàn Quốc. Đứng bên kia chiến tuyến, trong khi người Bắc Hàn theo lời hô hào của chủ tịch Kim Nhật Thành, say mê với môn Hapkido hay còn gọi là Hiệp Khí Đạo thì ở bên này những chàng “Baeyongjun” hay “Jangdong gun” lại đắm đuối với những gì mãnh liệt mà Taekwondo mang lại.
Taekwondo dạy người ta biết vận động một cách vật lí. Đây là một nguyên tắc thể hiện những cách thức nâng cao tinh thần và cuộc sống qua việc rèn luyện một cơ thể sắt đá và tâm hồn không quản ngại khó khăn. Ngày nay, được nằm trong môn thi đấu của vũ trường quốc tế, Taekwondo không ngừng trở nên lớn mạnh. Để phân tích từ Taekwondo, ta thấy thành tố “Tae” có nghĩa là chân hay bước, “Kwon” là nắm đấm, “Do” là đạo hay con đường đi. Cụm từ này xác định rõ tiêu chí và phương hướng của môn phái.
Một cách hiểu rõ cụm từ này là cách thức đúng để sử dụng bàn chân và nắm tay, thứ hai còn là một đạo để những con người đi theo tu dưỡng, giải quyết mâu thuẫn nơi mình và bên ngoài nhằm giúp chúng ta có thể xây dựng một thế giới tốt đẹp và hoà bình hơn.
Với tinh thần như thế, Taekwondo đã phát triển suốt 5000 năm trong lịch sử lâu dài của vùng đất Triều Tiên dưới nhiều tên gọi khác nhau. Ở Hàn Quốc, nó được bắt đầu như là một môn võ tự vệ gọi là Subak hay Takkyeon như thể là một phương pháp thư giãn và dưỡng sinh, trui rèn cơ thể của vương quốc Cao Cú Lệ mà sau này phát triển thành môn Sunbae. Trong thời kì Silla, nó đã trở thành đã trở thành một môn đào tạo của chương trình Hwarangdo.
Giờ đây Taekwondo tương tự như những môn võ khác của các quốc gia phương Đông, tuy bắt chung có thể ở một nguồn nhưng môn võ này luôn có đặc điểm riêng, đó là tính khoa học tạo ra sự năng động của cơ thể và đặc biệt là bàn chân, hơn nữa những vận động này luôn tương đồng với tâm hồn và cuộc sống tự nhiên của vạn vật.
Như thế Taekwondo tựu chung luôn có sự thống nhất trong nội tại giữa cơ thể, tâm hồn và cuộc sống, sự hoà đồng này giúp nó xứng đáng trở thành một phương pháp rèn luyện, một thứ đạo học tu dưỡng của nhân dân Hàn Quốc.
Nguyễn Hạnh( Theo tư liệu võ thuật Hàn Quốc).

THẮNG CỐ

Vài điều về Thắng cố



Những ngày sống tại Bắc Kinh, thủ đô nước CHND Trung Hoa, trong những bữa ăn bình dân tôi thường được ăn một món gọi là Hututang ( Hồ Đồ thang), thực chất là một món canh nấu lẫn lộn các thứ rau và thịt ăn kèm với bánh bao chay của cộng đồng người Hoa.



Món ăn này ăn nóng khá ngon, nghe đâu được sáng tạo theo cảm hứng lấy từ câu nói “Nan đắc hồ đồ” nổi tiếng của Trịnh Nhiếp (Tức Trịnh Bản Kiều, một họa sĩ và nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc). Nhìn cách thức nấu hỗn độn này, tôi mường tượng đến ngay món Thắng Cố, một món canh được biết đến là “Linh hồn ẩm thực” của những phiên chợ vùng cao.

Sự xuất hiện của những món ăn với phương thức nấu hỗn độn kiểu này đã có từ lâu trong lịch sử ẩm thực Trung Hoa. Điều đó đã để lại dấu vết trong một số từ nguyên ví như Lẩu ( Từ chữ Lô, có nghĩa là lò), Tả Pí Lù ( Tức Đả Biên Lô, món ăn thập cẩm quanh một bếp lửa nấu sôi). Có lẽ Thắng cố cũng nằm trong những trường hợp như thế.

Chẳng ai biết Thắng cố xuất xứ từ đâu, có từ khi nào, chỉ biết quanh bếp lửa sùng sục canh sôi, những người con của bản làng say sưa theo âm hưởng núi rừng, và tình yêu ươm mầm, nảy nở.

Có giả thuyết từ Thắng cố xuất phát từ hai chữ Thang Hoắc, là một thứ canh thịt nấu lẫn lộn của người Hoa Hạ. Trong món canh đó, nguyên liệu chủ yếu là nước ninh xương và thịt có thể là từ lợn hay bò, được nấu và ăn trong những ngày lễ quan trọng trong những thủ tục hành chính thời cổ đại.

Món Thắng cố ở vùng cao Việt Nam lại thường được chế biến từ thịt ngựa với công thức nấu lẫn lộn cả xương, thịt, da và các bộ phận nội tạng, nghĩa là dường như không bỏ đi một chút nào trong cơ thể con ngựa. Từ hình thức khởi đầu này, người ta có thể biến tướng bằng cách dùng thịt bò hay lợn thay cho thịt ngựa, thậm chí sau này là tất cả những gì có thể ăn được đều có thể đưa vào nồi.

Nghe bà tôi kể lại, trên vùng cao thì Thắng cố được chia làm hai loại. Đó là món Thắng cố dành cho những người bình dân và một loại khác dành cho những thành phần quan lại hay quí tộc vùng cao, các chức sắc trong làng bản.

Về cơ bản, Thắng cố vẫn là Thắng cố, tức là nó vẫn là một món canh nấu theo kiểu tập thể, chảo lớn đun lửa to, ăn uống theo những ngày hội lớn. Thế nhưng khác với loại Thắng cố bình dân nấu hỗn độn những gì có thể ăn như trên, công thức dành cho các nhà quí tộc vùng cao lại là những gì đã được làm sạch sẽ tuy vẫn là nước xương, thịt và nội tạng. Loại Thắng cố như thế có vẻ “Nhã nhặn” hơn, phù hợp với những người miền xuôi tham gia phiên chợ. Đây cũng là công thức mà hiện nay được những người du lịch ưa chuộng.

Quan sát các dân tộc ở xứ lạnh phương Bắc, lúc hội hè họ thường có những hoạt động tập thể với những điệu múa quay tròn bên đống lửa. Trong cùng một trường tư duy như thế, nồi Thắng cố cũng mang một ý nghĩa gần tương tự. Bên nồi thắng cố ấm cúng, hơi lửa nóng cùng men say với sự góp mặt của các thành viên trong cộng đồng sẽ đem đến cảm giác được chở che, đoàn tụ và mọi người sẽ nghĩ tới một cuộc sống tốt đẹp, chan chứa tình yêu.

Để có một cái nhìn mang tính thực tế hơn về Thắng cố, người viết bài này xin được trích ra một đoạn nhan đề “Uống rượu ở vùng cao” được tuyển đăng trong tập Văn Hoá Rượu của tác giả Thái Lương do nhà XB Văn hoá Thông Tin xuất bản:

“Chợ Nước Hai thuộc Cao Bằng cũng như rất nhiều chợ ở Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Yên Bái… được coi là chợ miền núi có phong sắc đặc biệt. Người ta mua bán đủ mọi thứ. Những con ngựa đưa những người đàn ông, đàn bà xuống chợ. Các cô gái ăn mặc quần áo mới rủ nhau vào chợ. Những chàng trai cầm trong tay cái Khèn hay Kềnh, có thể biểu diễn bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu trước mặt những người đẹp vùng cao. Nhưng không có gì vui bằng mấy cái quán nhỏ lô nhô những người cười cười, nói nói ngồi chen chúc nhau. Họ rút ra những bình rượu riêng đem theo mang ra uống. Rượu ai người ấy uống. Họ đợi bát canh “Thắng cố”. Phía ngoài quán có một chiếc chảo to đặt trên ba hòn đá thay kiềng. Phía dưới đốt củi đùng đùng làm cho nước trong chảo sôi lên sùng sục. Người ta bỏ vào chảo những miếng thịt, những tim, gan, phổi, tiết và có khi cả bộ lòng, dạ dày của các hàng bán thịt lợn, bò, dê. Chảo Tạp Bí Lù, Thập Cẩm, Năm Cha Bảy Mẹ này gọi là “Thắng cố”, theo tiếng H’Mông. Mọi người ngồi vây quanh lấy quán bán Thắng cố để đợi ông chủ mang đến cho họ những bát Thắng cố hôi hổi. Với mọi người, Rượu và Thắng cố là đủ, là niềm tin, là lạc thú ở đời. … Thỉnh thoảng họ lại đưa vào chút gia vị như: Ớt, Tỏi, Rau thơm, nõn chuối để đưa đà cho Rượu… Ai chưa có cái rạo rực, hăm hở ngồi uống Rượu chờ bát Thắng cố nghĩa là chưa phải đi chợ cùng cao…”.

“…Anh lên chợ, còn em xuống chợ,
Ép nhau uống một bát Rượu đầy…
Rồi như chưa chồng chưa vợ,
Thật lòng say những lời say…”

Bên chảo Thắng cố bập bùng, mặt người đẹp hồng lên tia hy vọng, lòng ta bỗng dào dạt nỗi yêu đương. Uống bát rượu Ngô, ăn bát Thắng cố, trai gái đi chợ vùng cao như muốn gửi nụ hôn rạo rực…

Nguyễn Hạnh.

ĐI TÀU SANG BẮC KINH

Đi tàu sang Bắc Kinh




Trung Quốc là một nước láng giềng phía Bắc tổ quốc ta. Đây là một cái nôi của loài người, nổi tiếng về văn hoá và cảnh đẹp. Hiện nay trong thời kì đổi mới. Trung Quốc đang dang tay vẫy chào những người bạn đến thăm quan với số lượng ngày càng nhiều. Để giúp đỡ những bạn yêu thích du lịch theo kiểu tự do, sau đây tôi xin trình bày một số kinh nghiệm tổng kết được qua một lần đi tàu kiểu “Bụi” tuyến Hà Nội Bắc Kinh.



Việc cần làm đầu tiên bạn phải đến lãnh sự Trung Quốc ở Hà Nội để xin visa tức thị thực nhập cảnh (Vào buổi sáng) với 30 USD, thủ tục cực kì đơn giản, mất từ 1 đến 3 ngày sẽ nhận được visa. Xin nhớ cho là ở ngay trước cổng luôn có một nhóm người sẵn sàng khai giấy tờ hộ bạn, thậm chí làm visa hộ bạn nếu thấy bạn còn lúng túng với giá cực bèo chừng 50-60.000VND.Có rất nhiều người mới đi lần đầu đã đồng ý sự giúp đỡ này.

Bạn nên mang theo passport (Hộ chiếu) đến ga Hà Nội mua vé trước 1 tuần so với ngày đi, giá khoảng từ 1 triệu 6 đến 1, 7 triệu tùy thời điểm. Nói chung giá vé năm trong khoảng 2 triệu VND kể cả ở bên nhà ga Bắc Kinh.

Các chuyến tàu đều khởi hành vào 18g30, phòng nhỏ 4 giường, máy lạnh và đi 45 tiếng. Bạn nên mang theo mì và thức ăn, vì trên tàu luôn có sẵn nước sôi và chỉ bán mỗi mì tôm với giá mắc gần gấp rưỡi. Đến 12g tối cùng ngày bạn đến ga Đồng Đăng, bạn làm thủ tục
khoảng hơn nửa tiếng và đóng 50 ngàn tiền tiêm chủng phòng bệnh thì chuyển sang tàu liên vận của Trung Quốc. Con tàu này đẹp và êm hơn tàu trước nhiều vì đường ray to hơn bên Việt Nam, nhưng ở đây chỉ có một thông dịch duy nhất biết nói tiếng Việt, còn lại toàn bộ đều nói tiếng Hoa và hầu như không nói tiếng Anh . Như vậy khi khai giấy tờ nên hỏi kĩ người thông dịch hay chạy sang toa cạnh hỏi thăm những người biết tiếng hoặc đã có kinh nghiệm.

Họ có thể sẽ kiểm tra hành lý của bạn, lưu ý đừng mang trái cây và rau quả sẽ bị tịch thu. Ngoài mì tôm giá 7 tệ còn có 1 nhà hàng trên tàu nhưng giá rất mắc, một phần cơm bình thường giá khoảng 15 tệ. Tôi nhớ có một lần đã bị nhân viên tàu liên vận tịch thu cả một thùng nước mắm loại ngon mà tiếc đứt ruột. (Người Trung Quốc thường ăn Xị Du tức Xì Dầu, người Việt ta hay mang nước mắm sang ăn hay làm quà cho đồng bào xa quê).

Sau một giấc ngủ, khoảng 9g sáng hôm sau , tàu dừng tại ga Nam Ninh,Trung Quốc. Lúc đó nhân viên tàu sẽ gõ cửa báo một câu: “Tao Nán Nính lợ!” (Đến Nam Ninh rồi!) Bạn để hành lý trên tàu ra ngoài khoảng hơn 30 phút – 1 tiếng để nhà ga cẩu toa đổi ray xong thì lên tàu đi thẳng Bắc Kinh. Trong khoảng thời gian nghỉ bạn có thể thưởng thức bữa sáng đầu tiên tại Trung Quốc với giá khoảng 3 tệ tại các quán ăn gần ga. Thức ăn ở Nam Ninh tương đối dễ ăn và hợp khẩu vị với người Việt. Bạn có thể ăn các loại mì và cháo là hợp lý nhất. Nên nhớ đừng tham mua nhiều quà nhiều lúc này vì chúng ta còn phải đi một chuyến xa nữa. Đi vào khoảng tháng 9 hoặc tháng 10, bạn sẽ được gặp rất nhiều học sinh VN trên tàu. Nhớ hỏi thêm họ kinh nghiệm đi đường. Nhớ là đây là tàu liên vận, hãy tỏ ra lịch sự, thân thiện nhưng ít nói để tránh hiểu nhầm. Một điều cần nhắc nữa là không tắt mắt các đồ lặt vặt trên tàu. Có lần một người đã định lấy trộm cái để dép ở trên tàu vì tưởng đây là cái khay trà bằng gỗ.

Khoảng 3g chiều hôm sau sẽ đến ga Bắc Kinh Tây (Beijing Xizhan), bạn nên cẩn thận nếu thuê những người khuân vác hành lý (Còn gọi là hội Mũ đỏ) và nhớ giữ lại cuống vé. Đi bộ khoảng 7 phút (nếu hành lý bạn không quá lủng củng) sẽ đến được ga tàu điện ngầm gần nhất. Mua vé 3 tệ và lên tàu và có thể chọn nhà trọ theo những hướng dẫn của người có kinh nghiệm. Nên nhớ Bắc Kinh rất rộng và nhiều người, nếu đi tập thể cần chú ý kẻo lạc. Có một lần sang làm việc với giáo sư Nhan Bảo tại trường ĐH Bắc Kinh, dù biết tiếng tôi cũng phải mất hai lần mới tìm thấy nhà vì đường đi quá lằng nhằng, phần vì Bắc Kinh tuy là thủ đô nhưng hiện nay người ngoại tỉnh nhiều, cho nên họ dùng rất nhiều thổ ngữ khác nhau, việc giao dịch thậm chí còn khó khăn cả với những người Trung Quốc. Nói đến điều này là để cảnh báo các bạn chớ chủ quan nếu đã biết được chút ít tiếng phổ thông. Nếu có nghe nói tốt cả giáo trình cao cấp Kiều Lương cũng chưa ăn nhằm gì với thực tế. Có người mới học được xong giáo trình 301 do chủ quan đã bị lạc ở Di Hoà Viên đến tận nửa ngày. Đối với người Trung Quốc ở Bắc Kinh, cách nói uốn lưỡi là một sở thích nhưng lại là nỗi kinh hoàng đối với tất cả các người Trung Quốc tỉnh khác.

Khi ở bên đó tôi đã từng thuê phòng với giá 40 tệ một ngày trong 4 ngày tốn 160 tệ. Bạn lưu ý check out ra khỏi nhà trọ trước 12g trưa và chọn nơi gần các trạm tàu điện ngầm, vì đi tàu điện ngầm tiện lợi hơn đi xe bus. Loại phòng tôi thuê giống như kí túc xá,có khoảng 8 giường 2 tầng, máy lạnh, 3 nhà tắm, dùng Internet miễn phí trong 30 phút nhưng phải đăng kí từ hôm trước. Lại lưu ý là trong một nhà khách bao giờ cũng có hai loại phòng là A và B tuỳ theo số người và số tiền bỏ ra. Bạn nên tham khảo trước khi chọn. Bạn cũng có thể tham khảo các nhà trọ rẻ tiền ở trang www.hostelworld.com.

Những ngày tại Bắc Kinh bạn có thể đi tàu điện ngầm đến khu Vương Phủ Tỉnh mua sắm, đi tàu điện ngầm đến tham quan Tử Cấm Thành. Sau khi xếp hàng mua vé giá 70 tệ, bạn có thể tham quan thoải mái.Tử Cấm Thành đóng cửa khoảng 17g. Nếu có ghé qua các khu chợ nhỏ ở ngay các trạm tàu điện ngầm như chợ Tây Đơn bạn phải trả giá thật lực. Ở khu du lịch tại Bắc Kinh, giá tiền cao thấp có hai mùa tuỳ theo đúng tháng du lịch hay không. Vào những tháng du lịch, giá tiền đắt hơn khá nhiều, bạn nên cẩn thận.

Bạn cũng có thể đi tàu điện ngầm với loại vé 5-6 tệ ra ngoại thành bắt xe bus (giá 5 tệ) thăm Cung Điện Mùa Hè tức Di Hoà Viên. Bạn đừng mua loại vé 50 tệ vào được 5 cửa vì Cung Điện Mùa Hè cực kì rộng lớn, chỉ nên mua vé 30 tệ, nếu còn đủ sức bạn hãy mua tiếp vé vào từng cổng tham quan và đừng quên lên thuyền đi quanh Hồ Tây với giá 8 tệ. Hãy cẩn thận vì tất cả các địa điểm tham quan ở Bắc Kinh đều vào một cửa và ra một cửa, thế cho nên đường đi sẽ là đi thẳng và không quay đầu lại. Nếu đi theo đoàn phải nắm vững điều này kẻo lạc.
Các buổi chiều còn lại bạn có thể tham quan các thắng cảnh khác hoặc đi mua sắm. Nếu được, bạn có thể la cà ở các hang quán lề đường để ăn món mỳ truyền thống làm tay giá chỉ 5 tệ, ăn cơm no nê ở các quán ăn nhỏ với giá chỉ khoảng 7 tệ hoặc loại sữa chua truyền thống giá 4 tệ. Cũng đừng quên mua chai trà xanh hay đỏ giá chỉ 3 tệ mà bạn thấy hầu như mọi người Bắc Kinh đều cầm trong tay (Người Trung Quốc không thích uống chung, nhất là sau dịch cúm H5N1, tốt nhất là bạn nên có chai nước của riêng mình).
Đối với bạn ưa lang thang uống rượu đêm thì tôi mách bạn món Lẩu dê có thể tìm thấy nhiều ở Bắc Kinh, rất bổ, rất vào và đồng thời rất rẻ vì thịt dê ở Trung Quốc thường được chiết khấu từ 6-10%. Một điều nữa muốn nhắc bạn là các cửa hàng ăn Trung Quốc rất ghét ai tự mang đồ uống vào. Để lựa chọn loại Rượu bổ phù hợp với Lẩu dê bạn nên chọn loại Trung Quốc Kình tửu (Zhongguo jin’r jiu) là ngon hơn cả. Cũng có thể chọn loại bia Yên Kinh là vừa ngon và hợp lý. Lẩu dê có nhiều món, bạn có thể gọi xương, nướng hay Lẩu nước trong hay đục, nhưng có một món đó là Dương Bảo (Yang bảo) tức “Hộp số của dê” là món các quí ông hay dùng tại Việt Nam. Có lần gọi món này, cô gái phục vụ người Cam Túc má đỏ như quả Bồ Quân cứ bụm miệng cười mãi.

Buổi tối ở Bắc kinh có hai nơi những người mới sang du lịch cấm kị đừng mò tới, đó là những quán Bar, nhất là nhà hàng Vodka Mạc Tư Khoa và khu đèn đỏ tức là những nhà hàng Karaoke có tiếp viên. Giá cả ở những nơi này rất đắt và khắc nghiệt, có người VN sang vì thiếu tiền lại có thái độ không đúng mực đã phải mặc quần đùi cởi trần đi về khách sạn.

Đấy là những cái bên ngoài, còn ở trong nhà trọ bạn nên nhớ là phải cẩn thận với những tiếng gõ cửa ban đêm vì đây chính là tiếng các tiếp viên gạ gẫm mại dâm. Bạn cũng đừng bấm điều khiển vô tuyến lung tung vì có thể bấm nhầm vào chương trình phim tươi mát mà thường phải trả rất nhiều tiền. Lại nữa, hãy giữ sao cho đúng cốt cách của một người khách du lịch sang thăm nước bạn. tuyệt đối không ăn cắp bất cứ thứ gì, một là sẽ phải trả thêm tiền đối với những đồ không tính theo gói thuê phòng như viên tránh thai, bao cao su.v.v…

Ngày cuối ở Bắc Kinh bạn đến ga để mua vé về VN hoặc bạn chọn vé giá 283 tệ để đến Thượng Hải trong 13g .Từ Thượng Hải mua tiếp vé tàu giá chỉ 30 tệ và cứ 3g lại có tàu đến Hàng Châu chỉ trong 2g.

Như vậy cả chuyến đi ở Bắc Kinh theo kiểu này chỉ mất 4 triệu cho phí đi lại, chi phí riêng chỉ khoảng 320 ngàn cho tiền ở, 300 ngàn cho tiền vé vào các khu tham quan và có gần 400 ngàn cho thưởng thức ẩm thực. Về Nam Ninh, lúc này bạn mới nên mua quà kỷ niệm bởi cái gì cũng có lại rất rẻ và không nặng nề.

Nếu có thể bạn nên ngủ lại thành phố nhỏ bé này một đêm để được thưởng thức món nướng đêm nơi đây, một món ăn rất phổ biến vào ban đêm ở Nam Ninh.

Trên đây là một số kinh nghiệm “Đi bụi” cơ bản ở Trung Quốc. Tuy những kiến thức này còn rất sơ sài nhưng người viết bài này chỉ mong muốn qua đây đóng góp một lượng kiến thức nho nhỏ cho những người bạn Tứ Hải yêu du lịch.

Nguyễn Hạnh ( Kỉ niệm Trung Hoa)
Nếu bạn bị lạc ở thành phố Bắc Kinh, hãy liên lạc ngay đến địa chỉ sau:
Guang Hua Lu.
No.32, Beijing. 100600
Tel: 65 321 155-65 321 125; Fax: 65 325 720.

CHIẾC CẦU ĐÁ LÀNG NÔM

Làng Nôm và chiếc cầu đá




Thôn Văn Ổ và thôn Lộng Thượng xã Đại Đồng huyện Văn Lâm là nơi phát xuất làng nghề đúc đồng có truyền thống lâu đời đã được đi vào trong câu ca dao:



“Đồng nát thì về Cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha”
Cầu Nôm ở Làng Nôm thuộc xã Đại Đồng, là chiếc cầu đá lâu đời. Chiếc cầu này được ghép từ nhiều phiến đá. Những phiến đá được các nghệ nhân thời xưa đục đẽo rất công phu. Chân cầu cũng là những cột đá hình trụ, trải qua thời gian đã bị xói mòn, trở nên rêu phong, cổ kính. Những phiến đá ở mép cầu được chạm trổ hoa văn hình mây, một họa tiết thường được trang trí trong kiến trúc cổ.
Trước đây, khi nhắc đến Làng Nôm, người ta mường tượng ra nơi đây là một làng có nghề đúc.
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng,
Ước gì anh lấy được nàng
Hà Nội, Nam Định dọn đàng đưa dâu.
Tỉnh Thanh cũng dọn trầu cau
Nghệ An thời phải thui trâu mổ bò.
Hưng Yên quạt nước hỏa lò
Thái bình làm gạo giã giò gói nem.
Ninh bình trải chiếu bưng mâm
Hải Dương vót đũa, Cầu Nôm đúc nồi.
Sơn Tây gánh đá nung vôi
Bắc Cạn thời phải thổi xôi nấu chè.”

Làng Nôm là nơi chuyên thu gom đồng phế liệu. Từ đồng phế liệu, dân làng đem đúc thành chuông, đỉnh, hạc…chủ yếu là đồ thờ. Sản phẩm của Làng Nôm được tiêu thụ nhiều nhất ở các đại lý tại Hà Nội. Cầu Nôm chính là một hiện hữu tô điểm cho quê hương nơi đây.

Nguyễn Hạnh(Kỷ niệm về thăm Làng Nôm)

ĐÌNH NỘI CHÂU

Đình làng Nội Châu



Gia đình chúng tôi cư trú tại phố Cửa Bắc, ngay trong ngõ chùa Phổ Quang Am Tự, những ngày lễ tết, việc cúng giỗ, tôi hay vào trong chùa thắp hương, thăm dõi phong quang. Kể từ ngày quán rượu Tứ Hải chuyển về ngõ 124 nghách 55 Đường Âu Cơ,Tứ Liên, Tây Hồ- Hà Nội thì những ngày lễ hội tôi thường vào đình Nội Châu vãn cảnh.

Theo các cụ kể lại thì ngôi đình này được tọa lạc ở vị trí hiện nay vào khoảng thời gian năm Ất Dậu (1705) và theo một người em tôi đọc lại văn bia thì đình đã được trùng tu năm Nhâm Ngọ (1942).
Tôi đã bỏ công tìm hiểu và biết rằng Tứ Hải nằm trên đất Tứ Tổng xưa, thờ các vị Thành Hoàng là ba anh em cùng sinh ra vào giờ Tý ngày 28 tháng 6 năm Mậu Dần, trong một gia đình thuộc dòng Nguyễn Huy ở trong Đồng Lục phủ Khoái Châu-Đạo Sơn Nam, nay là huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chính danh từ Trang Xuyên Bảo thời Lý và Tam Bảo Châu thời nhà Trần là nơi các Ngài đã được nuôi dưỡng và trưởng thành.
Theo sách cổ các Ngài thuộc trong tám vị Nhân Thần bộ thứ hai của chi Thuỷ Trấn, có công lớn trong công cuộc Phá Tống bình Chiêm, giữ yên cho bờ cõi Đại Việt.
Sau khi hiển Thánh, các ngài được tôn làm Thành Hoàng làng và được các vương triều cấp sắc, phong tặng tước hiệu. Điều này thể hiện qua 23 đạo sắc phong từ thời Vĩnh Thịnh (1705) đến thời Khải Định (1920) đang được lưu giữ tại đình.
Các ngài gồm:
Đức Thánh Cả ( Húy Nguyễn Huy Bảo) tức Đương Cảnh Thành Hoàng Bảo Trung Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương.
Đức Thánh Hai ( Húy Nguyễn Huy Mỹ) tức Đương Cảnh Thành Hoàng Minh Khiết Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương.
Hai Đức Ông cùng hoá ngày 12 tháng 10 âm lịch.
Đức Thánh Bà ( Húy Nguyễn Thị Phương) tức Ý Hạnh Phu Nhân Tôn Công Chúa Thượng Đẳng Phúc Thần. Bà hoá ngày 16 tháng 3 âm lịch.
Vào những ngày hóa của các Ngài, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống hàng năm để tưởng nhớ đến công đức của những vị anh hùng đã hy sinh cho đất nước.
Vùng đất Tứ Liên với dòng sông Hồng hiền hòa, ngôi chùa Vạn Ngọc, Đình Nội Châu đã đem lại nét thanh bình, cho ánh ban mai thấm đẫm tiếng chuông báo sáng trầm tư của bình minh lại về trên mái rạ, cho không gian Tứ Hải như sâu hơn, thân thương trong kí ức của tôi những ngày sinh sống tại nơi đây.
Đào Lệ Chung

THAO THỨC THỜI MÌ TÔM

Thao thức thời Mì Tôm




Những ngày sống trong đói rét, có lẽ người ta mới lại nghĩ đến những gì bình dị đã nuôi sống con người trong thời thơ ấu.


Là một người con sinh ra sau chiến tranh, không biết có thể nói là tiếc hay không khi tôi không còn được biết đến những món bất hủ chỉ được nghe kể lại như Mì Không Người Lái, Bột Mì Hấp, Nắp Hầm…của thế hệ đi trước, thế nhưng phải nói cái dư vị của một thời khó khăn mà đất nước tất yếu phải trải qua vẫn ít nhiều trôi qua một phần trong ký ức.
Thuở ấy cứ sáng sáng, lũ trẻ chúng tôi cứ ước ao một chiếc bánh mì Paté thật lớn, thế nhưng món đó chẳng có đâu, thay vào đó là củ Khoai, cơm nguội, sang lắm là bát cơm rang có mỡ không hành, thêm ít thuốc độc: Mì Chính.
Hồi nhỏ tuổi, cứ mỗi lần đi nhổ răng ở bệnh viện Việt Đức về, món tẩm bổ sang nhất mà cả nhà dành dụm cho tôi là một bát cháo hành tía tô có đập vào quả trứng gà thơm phức.
Lúc ấy thú thực trẻ con chúng tôi nói dại chỉ ước được ốm, bởi ốm đồng nghĩa là được ăn Phở, ôi những bát Phở lúc đó sao mà ngon đến thế!? Tôi nhớ hồi ấy mỗi lần đi qua quán Phở Sinh trước cổng triển lãm Giảng Võ là mắt cứ dán vào cái nồi đang bốc hơi nóng nghi ngút. Hình như mùi thơm của Nhục Quế, Thảo Quả, tương ớt… đã ngấm cả vào những chiếc cột bằng tre nơi đây, cứ dậy lên một mùi thơm kỳ lạ!
Cái thú được húp xì xụp một bát nước canh nóng vào những ngày giá lạnh khiến người ta nghĩ ra đủ thứ để mô phỏng món Phở. Hồi nhà nước bán kèm bột mì vào phần lương thực, bọn trẻ con mê lắm món mì bằng bột cán mỏng nấu với nước dùng nêm muối, sang lắm là một chút mì chính, nước mắm, nếu có thêm vài lá hành thì thật đúng là không còn gì bằng. Mỗi chủ nhật, cả nhà quây quần bên chiếc nồi húp soàn soạt xem phim Cảnh sát lấy vợ của Pháp, ai nấy vui như vào hội.
Còn nhớ có lần đọc một cuốn truyện cách mạng, đến đoạn anh nuôi khéo tay nấu một nồi mì sợi nạo từ một thân cây đu đủ với nước mắm kem giúp cho một đơn vị bộ đội đang trong tình trạng cạn kiệt lương thực được một bữa no nê trước giờ vào trận đánh, tôi liền gấp sách lại, nằng nặc đòi mẹ cho đi ăn Phở bằng được.
Tháng năm qua lại, thị trường trên những chặng đường đổi mới dần xuất hiện những mặt hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Sự có mặt của mì tôm, những gói mì ăn sẵn là tất yếu, phù hợp với nhịp độ làm việc và nếp sinh hoạt của từng gia đình. Lúc đầu, loại mì tôm được biết đến là mì Hai Tôm gói giấy màu vỏ bao xi măng in chữ đỏ. Loại mì này một thời được bọn trẻ con coi như một thứ sơn hào hải vị. Mỗi tối học bài xong, trước khi đi ngủ thật hạnh phúc khi được một bát mì nóng hổi thơm đượm. Ai cũng kháo nhau rằng đây là thứ mì hảo hạng có sợi tẩm bơ, thế mới có thể có mùi vị đặc biệt đến thế!!! Mà nghĩ cũng đúng thật! Mỗi lần ăn mì, từng đứa trẻ con thi nhau xì xụp húp cho đến cạn kiệt bát nước, húp trong hân hoan và tiếc nuối khi thứ chất lỏng ấy hết quá nhanh bởi sự háu ăn quá đỗi, khi dư vị thần tiên dường như vẫn chào mời trong cái cổ họng đang ngừng lại trách cái mồm sao không tiếp tục xuỳn xuỵt nữa. Không hiểu sao lúc đó bát mì tôm không người lái giản dị như thế ăn vào lại ngon đến vậy. Người thì bảo là thời ấy ăn uống còn khó khăn, ăn một gói mì tôm 81g lạ miệng trong sự thòm thèm thì cảm thấy ngon là điều tất yếu, người lại bảo mì tôm thời ấy sợi dai hơn, tẩm nhiều bơ hơn. Riêng tôi thì cảm thấy hình như bát mì Hai Tôm thuở nhỏ ăn thơm và ngon hơn thật, hơn cả mì Kim Chi và một loạt loại mì có cái tên rất kêu được tẩm ướp đủ thứ gia vị mới lạ. Đến bây giờ, nhiều người vẫn quả quyết rằng ăn mì tôm phải ăn mì gói giấy màu vỏ bao xi măng mới là sành điệu bởi loại mì này có mùi vị chân thực, đặc trưng, không bị pha phách, tẩm ướp những gia vị có mùi khác lạ.
Tôi có ông anh rể nấu ăn rất khéo, lần đầu đến nhà cưa chị tôi cứ khẳng định mãi mì Hai Tôm gói giấy mà nấu với rau cải là hợp nhất. Thứ rau cải mát he đắng quyện với mùi bơ là một sự kết hợp khá hoàn hảo mà sau này một thời sinh viên đã giúp những chàng thanh niên nghèo lang thang qua được bữa đói ban trưa một cách ấn tượng, ngon lành.
Cùng thời với mì Hai Tôm còn có mì Hai Cua loại gói trắng chữ xanh cũng rất thơm ngon. Thế nhưng không hiểu sao thứ mì đó chỉ thỉnh thoảng mới thấy ở Hà Nội, nghe nói ở Hải Phòng, Sài Gòn lại có bán rất nhiều. Kí ức một đứa trẻ con thời ấy như gắn liền hẳn với tên tuổi hai loại mì này với những liên tưởng về một cuộc sống ấm no, thanh bình có ông bà, bố mẹ, bạn bè, những tiếng trống khai trường, những trò chơi hào hứng và những buổi tối quây quần hứa hẹn một bát mì ngon lành trước khi trôi vào một giấc mơ đầy hương vị thơ ngây.
Từ những sản phẩm trình làng tiêu biểu như thế, mì tôm đã dần đi vào đời sống mọi người một cách tự nhiên, âm thầm nhưng thực ra thật sôi động. Quả thật có lẽ không chỉ đối với tôi, mà nhiều người cũng phải thừa nhận rằng hình như một đó là loại mì thật có nhiều duyên nợ.
Đầu tiên đó là thức ăn “Cứu đói cấp thời” của những sinh viên xa nhà trong những ngày hết tiền, trong những đêm học thi vất vả. Có những anh chàng để dành dụm tiền chiêu đãi bạn gái một bữa kem Tràng Tiền mà phải chấp nhận một tháng ăn mì tôm. Sau này nghe họ tâm sự cứ mỗi lần nhìn thấy những gói mì trên giá sách là đã thấy phát sốt, tôi cứ buồn cười mãi! Tình yêu gớm ghê như vậy đấy!
Mì tôm còn là thứ có trong hành trang của một số công nhân viên chức ăn uống kiêng khem, tiết kiệm. Có những giáo viên chỉ cần một gói mì tôm suông buổi trưa là đã đủ. Suốt cả học kỳ đều như vắt chanh, họ kiên trì ăn mì tôm như đó là một nhiệm vụ trong cuộc đời phải làm.
Hình như cuộc đời tôi có duyên số được quen với nhiều bạn vong niên là những người đàn ông muộn màng và độc thân. Và chính trong lúc giao tiếp với họ, tôi cứ nghĩ rằng phải chăng mì tôm được sinh ra cho những con người này!? Một gói mì tôm úp nước sôi được pha chế rất nhanh và đơn giản. Cứ mỗi lần nhậu say xỉn cho vơi nỗi sầu với chúng bạn về thì đây là thứ chống đói rẻ, dễ ăn và tiện lợi nhất cho những anh chàng phòng không lười biếng. Nhìn họ lọ mọ đun ấm nước, tay run run pha mì tôm một mình trong đêm đông giá buốt, liệu có cô nàng nào chạnh lòng không??? Tôi thì thấy tội cho họ lắm!
Bên Trung Quốc, gói mì tôm to hơn hẳn mình. Những tháng đầu sang công tác bên ấy. Thú thực tôi nhiều lúc rất ngại đi ra ngoài ăn. Thế là chỉ một gói mì ăn liền 100g là tôi đã có thể đánh một giấc đến sáng bảnh…Biết tôi hay ăn mì như thế, một giáo sư trường đại học Bắc Kinh mua hẳn cho tôi mỗi lần bốn năm thùng mì Khang Sư Phụ, một loại mì ăn liền ngon có tiếng. Tôi cảm động lắm, ăn mì mà biết ơn người thầy giáo ngoại quốc, nhớ đến quê nhà, nhớ những kỷ niệm gắn liền với gói mì Hai Tôm.
Giờ đây, vào siêu thị, người tiêu dùng như lạc vào một rừng thương hiệu mì với đủ các tên gọi từ Hảo Hảo, Mì Gà Nấm, Lẩu Thái, Mì Bò Hành Răm…thơm ngon tinh khiết, bao bì sặc sỡ đủ màu. Có mấy ai mỗi lần bê bát mì nấu tim gan bồ dục hay tái bò…còn nhớ đến những gói mì Hai Tôm, Hai Cua gói giấy giản dị úp suông, những gói mì đã gắn liền với một thời quá xa ấy không?
Nguyễn Hạnh