Mép nong đào
Làng Trích Sài xưa tên miền hái củi. Chàng tiều phu nghèo gặp gỡ gái ươm dâu. Tương tư ấy ngàn năm còn đọng lại. Để một ban mai du đãng ngẩn ngơ nào...
Sáng bạch lộ rù rì người gánh hạt
Nhặt cần cù hoa cỏ mù sương
Bên hồ bạn đôi cúc gù thanh thản
Bước thong dong đếm yểu điệu trên đường
Truyền thuyết ấy là đây vùng hái củi
Quê hương giàu đất mẹ nuôi dâu
Em tha thướt từ ngàn xưa hiện lại
Sẽ nong nia e ấp dải lụa màu
Từ nâu thẳm ai là sâu là kén
Ướm tay hồng tíu tít sợi chỉ hoa
Anh từ đất từ mầm cây mọc lại
Nảy cho em cội ong bướm đậm đà
Thì thôi nhé xin chớ nê thành phố
Thân trai gày vẫn biết hẹn cầu ao
Em thôn nữ tay liềm yêu dấu lắm
Về theo anh cạp khéo mép nong đào.
Nguyễn Hạnh ( Kỷ niệm Trích Sài-Hồ Tây, vùng đất hái củi dệt lĩnh xưa)
Chú thích: Trích Sài ( Vùng đất hái củi ) là một trong những làng thuộc Kẻ Bưởi ở Hà Nội xưa, nơi ngày trước có hai làng nghề nổi tiếng là Làng Yên Thái ( Hồ Khẩu) làm giấy và Làng Trích Sài ( Bái Ân) làm nghề dệt lĩnh nổi tiếng.
Thứ Hai, 9 tháng 7, 2007
THIẾU LÂM TỰ
Thiếu Lâm Tự
Chùa Thiếu Lâm (Hán ngữ: 少林寺; Phiên âm: Shàolínsì; Hán Việt: Thiếu Lâm Tự; dịch nghĩa: "chùa trong rừng gần đỉnh Thiếu Thất") là một ngôi chùa tại Trung Quốc, nổi tiếng từ lâu nhờ mối liên hệ với Phật giáo Trung Quốc và Võ thuật và có lẽ nó là một cơ sở Phật giáo nổi tiếng nhất đối với phương Tây. Chùa Thiếu Lâm với võ phái Thiếu Lâm được xem là nguồn gốc các phái võ Trung Quốc hiện nay.
Thiếu Lâm Tự (少林寺) có nghĩa là ngôi chùa trong rừng. Nơi đây đã từng có một con người: Bồ Đề Đạt Ma 菩提達魔, vị tổ thứ 28 của Thiền tông Quyên Độc 身毒, tức nước Ấn Độ cổ. Sau khi xuống núi, ngài đi thuyền cập bến Quảng Châu vào năm thứ bảy đời Lương Võ Đế 梁武帝 (520). Từ đây khởi đầu một dòng võ lừng danh thế giới.
Không được sự đồng cảm, Bồ Đề Đạt Ma bèn tạ từ vị vua nhà Lương rồi xuôi lên phía Bắc. Sách chép rằng: Ngài vượt sông Dương Tử bằng cọng lau, lúc đầu dừng chân ở Lạc Dương, sau cùng dừng chân tại Thiếu Lâm Tự và diện bích suốt chín năm thiền định.
Từ bậc khai sáng qua nhiều đời kế, Phật giáo Thiền tông , trở thành dòng suối chảy nhuần qua nền văn hóa Trung Hoa và châu Á. Bồ Đề Đạt Ma đã phát triển Thiền tông, nâng lên tầm võ thuật, võ học, võ đạo.
Ngày nay, thăm chùa Thiếu Lâm Tự rất dễ nhận ra dấu ấn của trang sử võ học vẻ vang suốt 1.500 năm. Phong thuỷ Thiếu Lâm Tự được dựng theo trục Tý Ngọ-Bắc Nam. Bên trên sơn môn lấp lánh bút tích của vị hoàng đế cũng là nhà thư pháp lỗi lạc Khang Hy đề hoành. Dọc theo lối đi từ sơn môn đếnThiên Vương điện là rừng bi kí, một kho tàng thư pháp quí giá của văn hoáTrung Hoa. Sau điện Thiên Vương là chính sảnh, nơi vừa được trùng tu. Tất cả thẫm đẫm màu sắc huyền hoặc mà thanh tịnh. Nó phản ánh không chỉ lịch sử ngôi chùa mà còn cả lịch sử Trung Hoa suốt hơn 1000 năm. Chuyện kể rằng Càn Long 乾隆, vị vua thượng võ đời Thanh, nhân đến thăm Thiếu Lâm Tự, nghe câu chuyện Đạt Ma “cửu niên diện bích” và Nhị Tổ Huệ Khả cầu đạo đã xúc động vô cùng. Suốt đêm ông thao thức, nằm nghe mưa rơi ngoài hiên, gió thì thầm trên ngọn cây tùng và suy nghĩ vẩn vơ về ý nghĩa kiếp người.
Phía đông chính sảnh là Kim Nạp Lạc, nơi đặt tượng thần Đại La, vị thần của môn phái Thiếu Lâm. Sau chính sảnh là Tàng Kinh các, nơi lưu giữ kinh sách, bảo kíp võ công và các tài liệu tối mật.Tiếp sau là phòng Phương Trượng, nơi ở của vị trụ trì. Sau phòng Phương Trượng là LậpTuyết Đình (Nơi đứng trên tuyết lạnh cầu đạo). Chính nơi đây, trước Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả đã chặt đứt cánh tay trái để tỏ lòng chí thành cầu đạo. Sau cùng là điện La Hán, là tòa điện lớn nhất trong Thiếu Lâm Tự, nơi truyền dạy công phu Thiếu Lâm. Chỉ những môn sinh tài giỏi nhất mới được tuyển vào luyện tập ở đây. Từ đây, những người xuất sắc nhất trong số môn sinh tài giỏi ấy lại được chọn để được truyền thụ đặc biệt trong Đạt Ma Đình, nơi họ được thụ giáo những tuyệt kỷ công phu Thiếu Lâm.Trên bốn bức tường điện La Hán là bức bích họa vĩ đại mô tả 500 vị La Hán biểu lộ sự tôn kính hướng về Đức Phật.
Trên nền gạch của điện La Hán còn nguyên những vết lõm sâu mà tương truyền là dấu chân của các cao thủ luyện công qua hàng thế kỷ. Phía đông điện La Hán là điện Quan Âm. Bức bích họa nổi tiếng hơn cả vẽ “mười ba vị sư Thiếu Lâm đang giải cứu vua Đường”.
Tường phía Bắc và phía Nam là tranh miêu tả các loại công phu Thiếu Lâm do các tăng nhân thực hiện bằng nhiều loại vũ khí khác nhau. Bởi thế, điện còn được gọi là điện Thiếu Lâm Công Phu. Một trong năm đỉnh núi phía sau chùa Thiếu Lâm là động Bồ Đề Đạt Ma, nơi ngài quay mặt vào vách đá thiền định suốt chín năm ròng rã, đến mức khuôn mặt ngài in hằn lên đá. Ngày nay, tảng đá ấy được đem về lồng kính trưng bày trong điện Quan Âm các.
Trong lịch sử gần 2000 năm, Thiếu Lâm Tự cũng từng trải qua những thời kỳ ảm đạm... Các công trình kiến trúc của chùa còn lại đến nay mang dấu ấn của nhiều triều đại, đa số được tu bổ và xây dựng từ thời nhà Minh, nhà Thanh.
Ngày nay, dưới chân núi Thiếu Thất có đến 60 học viện võ thuật Thiếu Lâm với hơn 40.000 môn sinh, là những thanh thiếu niên trên khắp đất nước Trung Hoa về đây ngày đêm khổ luyện. Trên nền tảng của truyền thống văn hóa dân tộc, sứ mệnh của thời đại, nhà nước Trung Quốc chủ trương nhất thống các võ phái của họ thành wushu - môn võ thuật hiện đại của Trung Quốc, lấy Thiếu Lâm Tự làm gốc.
Nhân một lần đi tàu liên vận sang xứ sở Trung Hoa huyền diệu, có hai người khách Hà Lan xuống tàu giữa đường. Như trả lời trước câu hỏi của tôi, họ nói: To Shaolin (Đến Thiếu Lâm). Quả thực danh tiếng của ngôi chùa này đã vượt qua xứ sở Trung Hoa rộng lớn.
Nguyễn Hạnh ( Lần đầu tới Trung Hoa)
Chùa Thiếu Lâm (Hán ngữ: 少林寺; Phiên âm: Shàolínsì; Hán Việt: Thiếu Lâm Tự; dịch nghĩa: "chùa trong rừng gần đỉnh Thiếu Thất") là một ngôi chùa tại Trung Quốc, nổi tiếng từ lâu nhờ mối liên hệ với Phật giáo Trung Quốc và Võ thuật và có lẽ nó là một cơ sở Phật giáo nổi tiếng nhất đối với phương Tây. Chùa Thiếu Lâm với võ phái Thiếu Lâm được xem là nguồn gốc các phái võ Trung Quốc hiện nay.
Thiếu Lâm Tự (少林寺) có nghĩa là ngôi chùa trong rừng. Nơi đây đã từng có một con người: Bồ Đề Đạt Ma 菩提達魔, vị tổ thứ 28 của Thiền tông Quyên Độc 身毒, tức nước Ấn Độ cổ. Sau khi xuống núi, ngài đi thuyền cập bến Quảng Châu vào năm thứ bảy đời Lương Võ Đế 梁武帝 (520). Từ đây khởi đầu một dòng võ lừng danh thế giới.
Không được sự đồng cảm, Bồ Đề Đạt Ma bèn tạ từ vị vua nhà Lương rồi xuôi lên phía Bắc. Sách chép rằng: Ngài vượt sông Dương Tử bằng cọng lau, lúc đầu dừng chân ở Lạc Dương, sau cùng dừng chân tại Thiếu Lâm Tự và diện bích suốt chín năm thiền định.
Từ bậc khai sáng qua nhiều đời kế, Phật giáo Thiền tông , trở thành dòng suối chảy nhuần qua nền văn hóa Trung Hoa và châu Á. Bồ Đề Đạt Ma đã phát triển Thiền tông, nâng lên tầm võ thuật, võ học, võ đạo.
Ngày nay, thăm chùa Thiếu Lâm Tự rất dễ nhận ra dấu ấn của trang sử võ học vẻ vang suốt 1.500 năm. Phong thuỷ Thiếu Lâm Tự được dựng theo trục Tý Ngọ-Bắc Nam. Bên trên sơn môn lấp lánh bút tích của vị hoàng đế cũng là nhà thư pháp lỗi lạc Khang Hy đề hoành. Dọc theo lối đi từ sơn môn đếnThiên Vương điện là rừng bi kí, một kho tàng thư pháp quí giá của văn hoáTrung Hoa. Sau điện Thiên Vương là chính sảnh, nơi vừa được trùng tu. Tất cả thẫm đẫm màu sắc huyền hoặc mà thanh tịnh. Nó phản ánh không chỉ lịch sử ngôi chùa mà còn cả lịch sử Trung Hoa suốt hơn 1000 năm. Chuyện kể rằng Càn Long 乾隆, vị vua thượng võ đời Thanh, nhân đến thăm Thiếu Lâm Tự, nghe câu chuyện Đạt Ma “cửu niên diện bích” và Nhị Tổ Huệ Khả cầu đạo đã xúc động vô cùng. Suốt đêm ông thao thức, nằm nghe mưa rơi ngoài hiên, gió thì thầm trên ngọn cây tùng và suy nghĩ vẩn vơ về ý nghĩa kiếp người.
Phía đông chính sảnh là Kim Nạp Lạc, nơi đặt tượng thần Đại La, vị thần của môn phái Thiếu Lâm. Sau chính sảnh là Tàng Kinh các, nơi lưu giữ kinh sách, bảo kíp võ công và các tài liệu tối mật.Tiếp sau là phòng Phương Trượng, nơi ở của vị trụ trì. Sau phòng Phương Trượng là LậpTuyết Đình (Nơi đứng trên tuyết lạnh cầu đạo). Chính nơi đây, trước Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả đã chặt đứt cánh tay trái để tỏ lòng chí thành cầu đạo. Sau cùng là điện La Hán, là tòa điện lớn nhất trong Thiếu Lâm Tự, nơi truyền dạy công phu Thiếu Lâm. Chỉ những môn sinh tài giỏi nhất mới được tuyển vào luyện tập ở đây. Từ đây, những người xuất sắc nhất trong số môn sinh tài giỏi ấy lại được chọn để được truyền thụ đặc biệt trong Đạt Ma Đình, nơi họ được thụ giáo những tuyệt kỷ công phu Thiếu Lâm.Trên bốn bức tường điện La Hán là bức bích họa vĩ đại mô tả 500 vị La Hán biểu lộ sự tôn kính hướng về Đức Phật.
Trên nền gạch của điện La Hán còn nguyên những vết lõm sâu mà tương truyền là dấu chân của các cao thủ luyện công qua hàng thế kỷ. Phía đông điện La Hán là điện Quan Âm. Bức bích họa nổi tiếng hơn cả vẽ “mười ba vị sư Thiếu Lâm đang giải cứu vua Đường”.
Tường phía Bắc và phía Nam là tranh miêu tả các loại công phu Thiếu Lâm do các tăng nhân thực hiện bằng nhiều loại vũ khí khác nhau. Bởi thế, điện còn được gọi là điện Thiếu Lâm Công Phu. Một trong năm đỉnh núi phía sau chùa Thiếu Lâm là động Bồ Đề Đạt Ma, nơi ngài quay mặt vào vách đá thiền định suốt chín năm ròng rã, đến mức khuôn mặt ngài in hằn lên đá. Ngày nay, tảng đá ấy được đem về lồng kính trưng bày trong điện Quan Âm các.
Trong lịch sử gần 2000 năm, Thiếu Lâm Tự cũng từng trải qua những thời kỳ ảm đạm... Các công trình kiến trúc của chùa còn lại đến nay mang dấu ấn của nhiều triều đại, đa số được tu bổ và xây dựng từ thời nhà Minh, nhà Thanh.
Ngày nay, dưới chân núi Thiếu Thất có đến 60 học viện võ thuật Thiếu Lâm với hơn 40.000 môn sinh, là những thanh thiếu niên trên khắp đất nước Trung Hoa về đây ngày đêm khổ luyện. Trên nền tảng của truyền thống văn hóa dân tộc, sứ mệnh của thời đại, nhà nước Trung Quốc chủ trương nhất thống các võ phái của họ thành wushu - môn võ thuật hiện đại của Trung Quốc, lấy Thiếu Lâm Tự làm gốc.
Nhân một lần đi tàu liên vận sang xứ sở Trung Hoa huyền diệu, có hai người khách Hà Lan xuống tàu giữa đường. Như trả lời trước câu hỏi của tôi, họ nói: To Shaolin (Đến Thiếu Lâm). Quả thực danh tiếng của ngôi chùa này đã vượt qua xứ sở Trung Hoa rộng lớn.
Nguyễn Hạnh ( Lần đầu tới Trung Hoa)
ÔNG NGOẠI TÔI
Ông ngoại tôi
Ông ngoại tôi mất khi tôi vừa vào cấp III, cho nên kỉ niệm rõ ràng về hình ảnh của ông cũng chẳng nhiều nhặn gì vì ông là một học giả, ngày bé phòng làm việc của ông là cấm đứa nhỏ nào bén mảng tới.
Kính viếng hương hồn ông ngoại – nhà nghiên cứu dân tộc học Quỳnh Văn Lã Văn Lô).
Ông ngoại tôi mất khi tôi vừa vào cấp III, cho nên kỉ niệm rõ ràng về hình ảnh của ông cũng chẳng nhiều nhặn gì vì ông là một học giả, ngày bé phòng làm việc của ông là cấm đứa nhỏ nào bén mảng tới.
Ông tôi nhiều sách lắm, lúc ông đi vắng nhiều lầnđánh bạo rủ lũ nhóc vào xem thì tôi chỉ thấy cơ man nào là sách tiếng Pháp, tiếng Trung, có khi cả những thứ chữ bà tôi bảo là của mấy ông thầy mo tận Mường Mán nào ấy ( mãi sau này lớn tôi mới hiểu đó là chữ Nôm Tày Dao) ông tôi sưu tập được khi còn làm tri châu Lạng Sơn.
Ông tôi vẽ rất giỏi, thường theo lối vẽ trúc của Trịnh Bản Kiều, đi điền dã nhiều khi ghi chép bằng hình ảnh chứ chả dùng văn tự. Tôi nhìn thấy những thứ đó thì mê lắm, cái gì cũng xem, nhưng trong số đó đặc biệt để ý đến vài tập sách vẽ tay khá rõ ràng về hai bài kiếm và quyền rất dài. Hình vẽ điệu đà mô tả một chàng trai lực lưỡng múa quyền và một cô gái đánh song kiếm trông rất điệu nghệ, ngày ấy tôi ngó thấy tên nhưng hình như chẳng để ý nên quên mất, hình như là Long Phượng Long Kiếm gì gì đó. Rồi năm tháng trôi qua…
…Tôi nhớ mãi ngày ấy bà tôi mắt đỏ hoe cẩn trọng nắm lấy vai mẹ tôi mà rằng: “ Con ơi! Thế là đôi bàn tay tài hoa của thầy nay đã yên nghỉ rồi…!!!... Một cảm giác gì hình như là sống mũi cay cay, tôi chạy vọt xuống phòng ông, sách vở bị lục lọi lung tung, bốn bề trống vắng… Tôi oà khóc, khóc đến tận bây giờ!.cuốn sách ấy cũng mất đi từ dạo đó.
Nói về ông tôi- một con người lưu lạc, thì chao ôi thật lắm câu chuyện, nào là một lần đi công tác ở Hữu Lũng bị ngã xuống vực sâu, ông được một người trong bản dùng thuật gọi Nàng Hai (gọi Chị Hằng) cứu sống, rồi thì khi làm tri châu Lạng Sơn, nhân một lần nói chuyện tiếng Bạch Thoại với tên thông ngôn Nhật về Đường Thủ ( Tang sho), ông được tên sĩ quan đất nước Phù Tang tặng ngay một thanh trường kiếm lưỡi gấp xịn và một con ngựa mang tên Ta lông, rồi thì khi bị một toán cướp Trung Quốc qua biên giới tấn công vào dinh thự tại Trì Ca, ông đã hạ gục tên thủ lĩnh như thế nào…
Sau này khi G.S Anh hùng lao động Vũ Khiêu kí giấy cấp cho ông tôi một căn hộ ở số nhà 102 D7 khu tập thể Thành Công- Ba Đình- Hà Nội, nhìn thấy sáng sáng ông tôi xách đôi kiếm gỗ đi tập thể dục thì có lẽ chẳng bao giờ tôi nghĩ rằng những lời đồn đại về ông là có cơ sở nếu như không có câu chuyện như sau:
…Đó là một buổi chiều nắng không chạm đất, mọi vật hình như ngưng lại sau cái oi bức trưa hè. Hồi ấy ông tôi có thói quen đi câu cá, thường đi một mình và về là đã có một rổ cá rô cho bà tôi rán lên uống rượu. Tôi nhớ mãi hôm ấy được điểm 10 môn chính tả, ông tôi chẳng có gì và quyết định thưởng cho tôi một món quà là đi cùng xem câu cá.
Địa điểm câu cá là ở ngay sau nhà, đó là bãi sông mà bây giờ là một số hàng quán thi nhau mọc lên ở đầu dốc Phụ Nữ. Ngoài bãi hồ hôm đó rất ít người, hai ông cháu tôi cứ im lìm đứng đợi phao động mà chẳng để ý gì đến xung quanh. Thời gian cứ thế lặng lờ trôi… Chà! Có lẽ hôm nay chẳng có cá nhắm rượu rồi!...
…Mặt trời đỏ ối như cười mỉm, như trêu ngươi. Ông tôi thì cứ trầm ngâm, còn tôi thì ngây thơ nghĩ vơ vẩn, tôi nhìn những đám mây hình cá, hình lâu đài, tôi lẩn thẩn ngó những chú gà ngô nghê vặt cỏ, tôi nghĩ đến Hạng Thác và câu hỏi mà ngay đức Thánh Khổng cũng không trả lời được là mặt trời buổi trưa bé hơn buổi chiều mà sao lại nóng hơn!...
Bỗng bên lề đường bên kia, tức là phía sông Tô Lịch bây giờ, tôi thấy thoáng bóng một người phụ nữ vừa chạy vừa la lối om sòm, tiếng kêu khóc mà một đứa con trẻ như tôi thời ấy cảm thấy sợ vô cùng, theo sau là một người đàn ông mặc một bộ quần áo bảo hộ lao động tay cầm một cái búa tạ hùng hục đuổi, khí thế như muốn giết người vậy!...
Tôi nhận ra ngay đó là vợ chồng một gia đình công nhân có gia cảnh rất khốn đốn, luôn lấy việc đánh chửi nhau làm bữa ăn chính vì anh chồng không chịu nổi cảnh khổ nên suốt ngày uống rượu gây gổ với vợ con. Hồi ấy việc uống rượu la đà đối với một người từ lứa tuổi thanh niên đến trung niên là không thể chấp nhận được, hơn nữa là thời kì còn khó khăn, uống bia rượu thường bị coi là xa xỉ. Ra ngoài đường chỉ thấy khi vui lắm người ta mới làm vài chén với đĩa lạc rang, những ông già thì cũng chỉ nhấm nháp một chén vào bữa cơm mà thôi. Việc nát rượu say sưa gây mất trật tự của anh nọ đã được mọi người nhắc nhở nhiều lần nhưng đâu vẫn đóng đấy. Có lẽ hôm ấy chị vợ khốn khổ kia đã chọc giận hắn thật ghê gớm nên mới xảy ra chuyện như vậy!
Nói thì rông dài nhưng sự việc xảy ra thì nhanh vô cùng, loáng một cái chị vợ đã chạy vọt sang chỗ ông cháu tôi dường muốn cầu cứu. Tên sát nhân kia cũng kịp trờ tới, tình thế cực kì nguy cấp vì lúc này ông tôi đang gần như ở vị trí đối diện với gã đàn ông mà chỉ thấy chiếc búa lăm lăm theo đà xốc tới nhằm sát thương chị vợ lúc đó đang bấu víu ngay đằng sau ông tôi.
Phải nói bao trùm lên khung cảnh lúc đó mà tôi cảm nhận được là một nỗi kinh hoàng làm tôi co rúm người lại…
Nhưng thật kì lạ là bỗng trong lúc đó chỉ thấy thân hình mảnh dẻ của ông tôi hơi nghiêng sang một bên, hai tay ông chắp vào dứt khoát đưa cao lên đầu, chiếc búa văng ra mãnh liệt…
Hơi chựng người lại vì bất ngờ, gã đàn ông lẩm bẩm rồi lấy hết sức lao vào tay đấm chân đá, một hành động thật ghê tởm khi đòn thù ấy lại nhắm vào một ông già bảy mươi tuổi. Nhưng lần này vẫn thấy ông tôi bình thản đưa chân ra sau, một tay gạt lên, tay kia đỡ xuống, rồi nhanh như cắt rút về thoi ra hai quyền song song. Khổ thân cho gã đàn ông với đà lao vào lãnh trọn cú tổng lực, loạng choạng bật ra sau, sóng xoài rên rỉ, mặc cho hàng xóm chạy ra người xỉ vả, người xốc nách. Ông tôi biến thành một vị anh hùng của khu phố.
Kết quả hôm đó là một bữa rượu không có cá ăn, chiếc bút máy Parker và cái đồng hồ quả quýt, vật tuỳ thân của ông tôi thì văng đâu mất, nhưng đổi lại bên chén rượu suông, tôi được ông hào hứng kể lại bao nhiêu chuyện cũ và một điều đáng nói là cũng từ đó hàng quán bán nước ngày càng nhiều thêm nhưng không còn thấy anh chồng kia say rượu đánh vợ nữa. Còn riêng về phần võ thuật, mãi sau này tôi mới biết ba đòn thế hôm ấy ông tôi dùng lần lượt là Đồng tử bái Quan âm, Hổ giáng Long thăng, Song Long quá hải thuộc quyền pháp Thiếu Lâm chính tông. Nghe nói hồi còn nhỏ, các cụ đã đón cả thày Tàu về dạy cho ông môn công này.
Thế là nếu như chẳng xảy ra việc thì cũng chẳng ai biết một ông già hàng ngày ngồi bàn giấy viết sách ấy là ông ngoại tôi biết võ, thứ võ thuật đã biến thành võ đạo khi hữu sự cứu người. Càng nghĩ về ông, tôi càng thấm thía cái hành xử của võ đạo nhân sinh lồng vào nghĩa một người học giả.
Tôi có một anh bạn nhà thơ vong niên, khi ngà say rất tâm đắc câu: “ …Ông thợ rèn mắt sắc như dao, cười nói rằng con tôi vụng lắm, chẳng biết rèn cả cái then cửa sắt trước nhà tưởng niệm Nguyễn Du…”. Hôm nay nói chuyện về tiền nhân, những người thợ rèn vụng về chúng tôi kính dâng lên họ những gì thiêng liêng nhất, cái then cửa tuy chẳng phải là vàng nhưng có thể khoá chặt được một kho báu của muôn đời.
Nguyễn Hạnh. ( Viết với lòng tôn kính nhất).
Ông ngoại tôi mất khi tôi vừa vào cấp III, cho nên kỉ niệm rõ ràng về hình ảnh của ông cũng chẳng nhiều nhặn gì vì ông là một học giả, ngày bé phòng làm việc của ông là cấm đứa nhỏ nào bén mảng tới.
Kính viếng hương hồn ông ngoại – nhà nghiên cứu dân tộc học Quỳnh Văn Lã Văn Lô).
Ông ngoại tôi mất khi tôi vừa vào cấp III, cho nên kỉ niệm rõ ràng về hình ảnh của ông cũng chẳng nhiều nhặn gì vì ông là một học giả, ngày bé phòng làm việc của ông là cấm đứa nhỏ nào bén mảng tới.
Ông tôi nhiều sách lắm, lúc ông đi vắng nhiều lầnđánh bạo rủ lũ nhóc vào xem thì tôi chỉ thấy cơ man nào là sách tiếng Pháp, tiếng Trung, có khi cả những thứ chữ bà tôi bảo là của mấy ông thầy mo tận Mường Mán nào ấy ( mãi sau này lớn tôi mới hiểu đó là chữ Nôm Tày Dao) ông tôi sưu tập được khi còn làm tri châu Lạng Sơn.
Ông tôi vẽ rất giỏi, thường theo lối vẽ trúc của Trịnh Bản Kiều, đi điền dã nhiều khi ghi chép bằng hình ảnh chứ chả dùng văn tự. Tôi nhìn thấy những thứ đó thì mê lắm, cái gì cũng xem, nhưng trong số đó đặc biệt để ý đến vài tập sách vẽ tay khá rõ ràng về hai bài kiếm và quyền rất dài. Hình vẽ điệu đà mô tả một chàng trai lực lưỡng múa quyền và một cô gái đánh song kiếm trông rất điệu nghệ, ngày ấy tôi ngó thấy tên nhưng hình như chẳng để ý nên quên mất, hình như là Long Phượng Long Kiếm gì gì đó. Rồi năm tháng trôi qua…
…Tôi nhớ mãi ngày ấy bà tôi mắt đỏ hoe cẩn trọng nắm lấy vai mẹ tôi mà rằng: “ Con ơi! Thế là đôi bàn tay tài hoa của thầy nay đã yên nghỉ rồi…!!!... Một cảm giác gì hình như là sống mũi cay cay, tôi chạy vọt xuống phòng ông, sách vở bị lục lọi lung tung, bốn bề trống vắng… Tôi oà khóc, khóc đến tận bây giờ!.cuốn sách ấy cũng mất đi từ dạo đó.
Nói về ông tôi- một con người lưu lạc, thì chao ôi thật lắm câu chuyện, nào là một lần đi công tác ở Hữu Lũng bị ngã xuống vực sâu, ông được một người trong bản dùng thuật gọi Nàng Hai (gọi Chị Hằng) cứu sống, rồi thì khi làm tri châu Lạng Sơn, nhân một lần nói chuyện tiếng Bạch Thoại với tên thông ngôn Nhật về Đường Thủ ( Tang sho), ông được tên sĩ quan đất nước Phù Tang tặng ngay một thanh trường kiếm lưỡi gấp xịn và một con ngựa mang tên Ta lông, rồi thì khi bị một toán cướp Trung Quốc qua biên giới tấn công vào dinh thự tại Trì Ca, ông đã hạ gục tên thủ lĩnh như thế nào…
Sau này khi G.S Anh hùng lao động Vũ Khiêu kí giấy cấp cho ông tôi một căn hộ ở số nhà 102 D7 khu tập thể Thành Công- Ba Đình- Hà Nội, nhìn thấy sáng sáng ông tôi xách đôi kiếm gỗ đi tập thể dục thì có lẽ chẳng bao giờ tôi nghĩ rằng những lời đồn đại về ông là có cơ sở nếu như không có câu chuyện như sau:
…Đó là một buổi chiều nắng không chạm đất, mọi vật hình như ngưng lại sau cái oi bức trưa hè. Hồi ấy ông tôi có thói quen đi câu cá, thường đi một mình và về là đã có một rổ cá rô cho bà tôi rán lên uống rượu. Tôi nhớ mãi hôm ấy được điểm 10 môn chính tả, ông tôi chẳng có gì và quyết định thưởng cho tôi một món quà là đi cùng xem câu cá.
Địa điểm câu cá là ở ngay sau nhà, đó là bãi sông mà bây giờ là một số hàng quán thi nhau mọc lên ở đầu dốc Phụ Nữ. Ngoài bãi hồ hôm đó rất ít người, hai ông cháu tôi cứ im lìm đứng đợi phao động mà chẳng để ý gì đến xung quanh. Thời gian cứ thế lặng lờ trôi… Chà! Có lẽ hôm nay chẳng có cá nhắm rượu rồi!...
…Mặt trời đỏ ối như cười mỉm, như trêu ngươi. Ông tôi thì cứ trầm ngâm, còn tôi thì ngây thơ nghĩ vơ vẩn, tôi nhìn những đám mây hình cá, hình lâu đài, tôi lẩn thẩn ngó những chú gà ngô nghê vặt cỏ, tôi nghĩ đến Hạng Thác và câu hỏi mà ngay đức Thánh Khổng cũng không trả lời được là mặt trời buổi trưa bé hơn buổi chiều mà sao lại nóng hơn!...
Bỗng bên lề đường bên kia, tức là phía sông Tô Lịch bây giờ, tôi thấy thoáng bóng một người phụ nữ vừa chạy vừa la lối om sòm, tiếng kêu khóc mà một đứa con trẻ như tôi thời ấy cảm thấy sợ vô cùng, theo sau là một người đàn ông mặc một bộ quần áo bảo hộ lao động tay cầm một cái búa tạ hùng hục đuổi, khí thế như muốn giết người vậy!...
Tôi nhận ra ngay đó là vợ chồng một gia đình công nhân có gia cảnh rất khốn đốn, luôn lấy việc đánh chửi nhau làm bữa ăn chính vì anh chồng không chịu nổi cảnh khổ nên suốt ngày uống rượu gây gổ với vợ con. Hồi ấy việc uống rượu la đà đối với một người từ lứa tuổi thanh niên đến trung niên là không thể chấp nhận được, hơn nữa là thời kì còn khó khăn, uống bia rượu thường bị coi là xa xỉ. Ra ngoài đường chỉ thấy khi vui lắm người ta mới làm vài chén với đĩa lạc rang, những ông già thì cũng chỉ nhấm nháp một chén vào bữa cơm mà thôi. Việc nát rượu say sưa gây mất trật tự của anh nọ đã được mọi người nhắc nhở nhiều lần nhưng đâu vẫn đóng đấy. Có lẽ hôm ấy chị vợ khốn khổ kia đã chọc giận hắn thật ghê gớm nên mới xảy ra chuyện như vậy!
Nói thì rông dài nhưng sự việc xảy ra thì nhanh vô cùng, loáng một cái chị vợ đã chạy vọt sang chỗ ông cháu tôi dường muốn cầu cứu. Tên sát nhân kia cũng kịp trờ tới, tình thế cực kì nguy cấp vì lúc này ông tôi đang gần như ở vị trí đối diện với gã đàn ông mà chỉ thấy chiếc búa lăm lăm theo đà xốc tới nhằm sát thương chị vợ lúc đó đang bấu víu ngay đằng sau ông tôi.
Phải nói bao trùm lên khung cảnh lúc đó mà tôi cảm nhận được là một nỗi kinh hoàng làm tôi co rúm người lại…
Nhưng thật kì lạ là bỗng trong lúc đó chỉ thấy thân hình mảnh dẻ của ông tôi hơi nghiêng sang một bên, hai tay ông chắp vào dứt khoát đưa cao lên đầu, chiếc búa văng ra mãnh liệt…
Hơi chựng người lại vì bất ngờ, gã đàn ông lẩm bẩm rồi lấy hết sức lao vào tay đấm chân đá, một hành động thật ghê tởm khi đòn thù ấy lại nhắm vào một ông già bảy mươi tuổi. Nhưng lần này vẫn thấy ông tôi bình thản đưa chân ra sau, một tay gạt lên, tay kia đỡ xuống, rồi nhanh như cắt rút về thoi ra hai quyền song song. Khổ thân cho gã đàn ông với đà lao vào lãnh trọn cú tổng lực, loạng choạng bật ra sau, sóng xoài rên rỉ, mặc cho hàng xóm chạy ra người xỉ vả, người xốc nách. Ông tôi biến thành một vị anh hùng của khu phố.
Kết quả hôm đó là một bữa rượu không có cá ăn, chiếc bút máy Parker và cái đồng hồ quả quýt, vật tuỳ thân của ông tôi thì văng đâu mất, nhưng đổi lại bên chén rượu suông, tôi được ông hào hứng kể lại bao nhiêu chuyện cũ và một điều đáng nói là cũng từ đó hàng quán bán nước ngày càng nhiều thêm nhưng không còn thấy anh chồng kia say rượu đánh vợ nữa. Còn riêng về phần võ thuật, mãi sau này tôi mới biết ba đòn thế hôm ấy ông tôi dùng lần lượt là Đồng tử bái Quan âm, Hổ giáng Long thăng, Song Long quá hải thuộc quyền pháp Thiếu Lâm chính tông. Nghe nói hồi còn nhỏ, các cụ đã đón cả thày Tàu về dạy cho ông môn công này.
Thế là nếu như chẳng xảy ra việc thì cũng chẳng ai biết một ông già hàng ngày ngồi bàn giấy viết sách ấy là ông ngoại tôi biết võ, thứ võ thuật đã biến thành võ đạo khi hữu sự cứu người. Càng nghĩ về ông, tôi càng thấm thía cái hành xử của võ đạo nhân sinh lồng vào nghĩa một người học giả.
Tôi có một anh bạn nhà thơ vong niên, khi ngà say rất tâm đắc câu: “ …Ông thợ rèn mắt sắc như dao, cười nói rằng con tôi vụng lắm, chẳng biết rèn cả cái then cửa sắt trước nhà tưởng niệm Nguyễn Du…”. Hôm nay nói chuyện về tiền nhân, những người thợ rèn vụng về chúng tôi kính dâng lên họ những gì thiêng liêng nhất, cái then cửa tuy chẳng phải là vàng nhưng có thể khoá chặt được một kho báu của muôn đời.
Nguyễn Hạnh. ( Viết với lòng tôn kính nhất).
VÕ THUẬT VÀ THƯ PHÁP
Võ thuật và Thư pháp
Võ thuật và thư pháp đều là di sản của văn hoá Trung Hoa, đều được người đời sau biết đến bởi sự tinh diệu của chúng. Võ thuật là một môn thể dục truyền thống có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, phong cách độc đáo, nó giúp cho con người ta có một thân thể khoẻ mạnh, là một phương tiện tu tâm dưỡng tính, phòng thân và có thể được coi là một môn thể thao thi đấu.
Trong khi đó thư pháp lại là những phép tắc dùng bút lông để viết chữ ở một số quốc gia dùng hệ thống văn tự khối vuông. Ngoài tính truyền tải thông tin, thư pháp còn mang tính nghệ thuật cao. Hai bên một văn một võ, tựa như không hề có một mối quan hệ nào, kì thực thì ngược lại. Có một anh bạn của tôi từng học khoa văn hiến Trung Quốc tại Bắc Kinh, mỗi lần bàn về hai thứ nghệ thuật này thường ngâm nga: “ Sơn Cốc viết hành, phẩy dài mác sắc, Võ Đang quyền pháp, phượng múa rồng bay. Hữu Quân viết ngay, móc vàng nét sắt, Thiếu Lâm quyền thuật, gân cốt là đây”, câu nói này muốn nói võ thuật và thư pháp có cùng một cơ sở, tuy khác thể mà cùng công, kì diệu, trong quá trình học tập có thể đối chiếu, tham khảo.
Giữa võ thuật và thư pháp có mối quan hệ cả bên trong và bên ngoài. Xét về quan hệ bên ngoài, võ thuật lấy công thủ phản biến làm chủ, lấy quyền thuật làm phương tiện biểu hiện. Võ thuật hàm chứa yếu tố nội ngoại, gồm đủ hình thần, đặc thù nhịp điệu vận động rõ ràng, phân minh. Những động tác trong quyền thuật mang ý nghĩa chiến đấu, trải qua rèn luyện đúc kết hình thành một chuỗi hệ thống hữu cơ hợp lí , khi biểu diễn như thế cần thể hiện được tinh thần của công thủ kết hợp với hô hấp, động tác nhịp nhàng; Khi động thì nhanh mà có lực, tĩnh thì vững như đá chôn cột đình ; Động Tĩnh cần thay đổi điều hoà. Ba yếu tố “Tinh, Khí, Thần” trong võ thuật bao hàm cái đẹp cương cường uy vũ, khiến chúng ta có cái khí thế mạnh mẽ dường như không gì cản nổi.
Còn thư pháp thì yêu cầu vận bút nặng nhẹ, Đề, Án, Đốn, Tỏa hài hoà như những nốt nhạc rung ngân. Điểm nét khinh trọng thô mảnh, mực viết khô nhạt đậm ướt biến hoá, xử lí thích hợp; Đặt bút thu bút tròn trĩnh chu đáo, làm cho nét bút có thần thái , có sức sống , có gân cốt , hàm chứa cả cái đẹp động thái lẫn tinh thần. Bố cục hàng lối chữ nghĩa ngang dọc lề lối , biến hoá thích hợp, trọng tâm bình ổn , điểm nét tương trợ , tỉ lệ hài hoà , dày thưa cân đối , cốt lấy cái ý hư thực tương sinh, thu phóng tương ứng, chữ hiện lên đầy sức sống sinh động. Một tác phẩm hoàn chỉnh cần mang đầy đủ tính chương pháp, bố cục, yêu cầu không gian đầu cuối, chữ với chữ, hàng với hàng, toàn bức một khí mà thành, gân mạch nối liền, khoảng hở đích đáng, to nhỏ thích nghi, sắp xếp biến hoá, tương hỗ lẫn nhau, phong thái nhất quán, đa dạng mà thống nhất. Một bức thư pháp để được gọi là tốt có thể khiến người xem cảm giác được sức sống, hàm chứa thần thái dồi dào, mang vẻ đẹp bút pháp, chương pháp, kĩ thuật hùng hồn, phóng đãng, duyên dáng hay hào sảng tuỳ theo từng phong cách khác nhau.
Từ những điều trên, có thể nói về hình thức bên ngoài võ thuật và thư pháp có một sự tương đồng rất lớn. Thư pháp Trung Hoa như “ Dường đứng dường ngồi, dường bay dường chạy, dường đến dường đi, dường nằm dường dậy, dường buồn dường vui, tựa côn trùng hoá lá cây, tựa kiếm sắc giáo dài thành cung xa tên lớn…(Sái Ung “Bút luận”). Võ thuật Trung Quốc động tác vững vàng như “Cây cao bóng cả”, nhanh như “Chèo bẻo đánh quạ”, duyên dáng như “Cò lả”, khéo như “Xe chỉ luồn kim”, mạnh mẽ như “ Anh hùng xuống núi”, gân cốt như “ Mèo già trèo cây”, điệu đà như “ Hoa thơm bướm lượn”.v.v... Hai đằng như thể quán thông, cùng nguồn khởi phát. Thư pháp chủ trương “Nhập mộc tam phân”, tức gân cốt, máu, thịt. Võ thuật cũng hết sức đề cao “ Xương cốt”. Đã có người lấy tứ chi và bộ khung xương người phân thành “ Ngũ cốt”, nhắc nhở cần phải có lực, sức mạnh cường tráng, kình phát ngay ngắn. Trên lí thuyết phân ra làm chưởng, bạt, trương, triển, câu, cấu, kiều, bảng.v.v… tương đương với đẩy, kéo, giang, mở, móc, gõ, nâng, nhảy…; Thư pháp đề ra phép gian giá kết cấu ngang dọc, nếu tư thế vẹo lệch, hệ thống phóng túng thì luyện cả đời viết chữ cũng chỉ bằng thừa. Võ thuật cho rằng thân phải ngay, bước phải vững, chiêu thức gọn gàng tức đòi hỏi tính chuẩn xác, hài hoà, chững chạc, nếu không thì không thể gọi là võ thuật nữa. Thư pháp yêu cầu nhìn ngó bố cục trước sau, tiền hậu tương ứng, cùng nắm, cùng chèo, có trọng có khinh, có nhu có cứng, có lộ có tàng, có hư có thực, có ngay có lệch, có ngắn có dài, có đè có nhấc. Còn động tác võ thuật luôn bao hàm Âm Dương, tức là có tiến có lùi, có cao có thấp, có trường có đoản.v.v… Để bắt đầu học võ thuật và thư pháp, người ta phải đi từ chỗ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ nông đến sâu. Võ thuật cần bắt đầu từ những động tác cơ bản, học thuộc những khuôn mẫu chính xác, sau đó mới luyện đến quyền thuật, rồi dần dần sang phần công thủ phản biến. Trong khi đó thư pháp cần bắt đầu bằng việc luyện thể chữ chính Khải chân phương mô phạm, sau đó mới đến Hành thư và Thảo thư như thể từ lẫy, bò, đi rồi mới đến chạy vậy. Thư pháp có các thể chữ Chân, Hành, Thảo, Lệ, Triện, võ thuật có Đao, Thương, Kiếm, Côn, Quyền. Thư pháp có Nhan, Âu, Liễu, Chử các danh gia đồng qui văn tự, võ thuật có Bát đại chư danh phái cùng gặp ở quyền.
Trung Hoa cổ đại có nhiều nhà thư pháp nổi tiếng xuất thân từ quyền thuật như Trương Húc đời Đường, Hoài Hi đều nhân quan khán Công Tôn Nương múa kiếm mà thăng tiến về Thảo thư. Ngược lại những nhà thư pháp trưởng thành trong võ thuật cũng có số lượng không phải là ít. Trong số đó phải kể đến thư pháp của Tôn Lộc đường, vận chuyển tự nhiên, cốt lực tiềm tàng, hùng hồn như chính quyền pháp của bản thân mình. Ngoài ra ta còn được chiêm ngưỡng thư pháp của Hà Phúc Sinh, Hải Đăng pháp sư cùng vô khối nhà võ sư- thư pháp gia khác.
Giờ chúng ta hãy xét mối quan hệ nội tại giữa thư pháp và võ thuật. Cả hai nghệ thuật này đều chú ý đến vận động của cổ tay. Ngô Đồ Nam trong tác phẩm “Quốc thuật khái luận” có nói: “ Làm thế nào để vận khí lực theo ý mình từ bàn tay sát thương được đối thủ? Chỉ cần dựa vào cổ tay mà đoán định. Nếu vai không buông lỏng thì lực không thấu đến khuỷu tay, khuỷu tay không lơi thì lực chẳng đến cổ tay, cổ tay không linh hoạt thì sao vận lực vào ngón tay được!? Thế thì đừng nghĩ đến việc đả thương đối thủ, cho nên một việc cần thiết cho việc luyện tập võ thuật là vận động cổ tay”. Việc thực hành thư pháp đề cập đến phép “Đề uyển huyền trửu” mà các cụ ngày xưa gọi nôm na là treo tay, như vậy có thể giúp cổ và ngón tay linh hoạt, có thể vận bút tự nhiên, dễ dàng điều chỉnh nặng nhẹ nhanh chậm, ý đến đâu tay theo đến đấy. Tương truyền nhà thư pháp Vương Hiến Chi khi viết chữ, bố là Vương Hi Chi nhân lúc ông không đề phòng, thò tay kéo khuỷu tay mà bút không hề máy động, Vương Hi Chi dự đoán sau này ông sẽ trở thành một nhà thư pháp lớn. Vương Hi Chi rất yêu quí giống thiên nga vì ông cho rằng sự vận động của phần cổ của giống chim này có thể giúp người tập thư pháp sáng tạo ra những phương pháp vận động cổ tay hữu hiệu, bổ ích vô cùng cho việc tập viết chữ bằng bút lông. Trong quá trình luyện tập thư pháp vì thế chúng ta có thể tham khảo những bài tập cổ tay của quyền thuật, kiếm pháp nhằm nâng cao kình lực và sự linh hoạt của cổ tay.
Nếu có thể kết hợp giữa thư pháp và Thái Cực Quyền thì đây là một tổ hợp tuyệt vời. Trong thư pháp người ta đúc kết rằng: “ Nếu thần mà không hoà, thì chữ vô hồn. Tâm mà không kiên định, chữ nghĩa không cương cường”. Trước khi viết chữ cần định Tâm tĩnh Trí, Khí tại đan điền, khi viết ý ở trước bút, một nét mà thành, khí mạch liên miên thì chữ mới sinh động, khí chạy không rời đổi, không đứt đoạn, có nhanh có chậm, có nặng có nhẹ, gồm đủ Âm Dương. Đó cũng là chủ ý của Thái Cực Quyền vậy!
Võ thuật và Thư pháp đều bắt nguồn từ đời sống lao động, qua quá trình tương hỗ song hành phát triển giữa bao nghành nghề khác, khi những bậc già nua râu tóc rưng rưng múa cho hậu nhân những đường tuyệt kĩ thì cũng là lúc họ đem tất cả những gì đúc kết lại cho con cháu đời sau, và cũng là lúc chúng ta hiểu rằng Võ thuật và Thư pháp còn chung nhau sự đam mê cháy bỏng của một đời người, bởi cả hai đều là những môn nghệ thuật, vì con người đã sinh ra và mãi cùng nhau bất diệt.
Nguyễn Hạnh. (Theo Thần kì đích vũ thuật-NXB nhân dân Quảng Tây)(Nguồn:Web site Tứ Hải Quán:http://tuhai.com.vn)
Võ thuật và thư pháp đều là di sản của văn hoá Trung Hoa, đều được người đời sau biết đến bởi sự tinh diệu của chúng. Võ thuật là một môn thể dục truyền thống có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, phong cách độc đáo, nó giúp cho con người ta có một thân thể khoẻ mạnh, là một phương tiện tu tâm dưỡng tính, phòng thân và có thể được coi là một môn thể thao thi đấu.
Trong khi đó thư pháp lại là những phép tắc dùng bút lông để viết chữ ở một số quốc gia dùng hệ thống văn tự khối vuông. Ngoài tính truyền tải thông tin, thư pháp còn mang tính nghệ thuật cao. Hai bên một văn một võ, tựa như không hề có một mối quan hệ nào, kì thực thì ngược lại. Có một anh bạn của tôi từng học khoa văn hiến Trung Quốc tại Bắc Kinh, mỗi lần bàn về hai thứ nghệ thuật này thường ngâm nga: “ Sơn Cốc viết hành, phẩy dài mác sắc, Võ Đang quyền pháp, phượng múa rồng bay. Hữu Quân viết ngay, móc vàng nét sắt, Thiếu Lâm quyền thuật, gân cốt là đây”, câu nói này muốn nói võ thuật và thư pháp có cùng một cơ sở, tuy khác thể mà cùng công, kì diệu, trong quá trình học tập có thể đối chiếu, tham khảo.
Giữa võ thuật và thư pháp có mối quan hệ cả bên trong và bên ngoài. Xét về quan hệ bên ngoài, võ thuật lấy công thủ phản biến làm chủ, lấy quyền thuật làm phương tiện biểu hiện. Võ thuật hàm chứa yếu tố nội ngoại, gồm đủ hình thần, đặc thù nhịp điệu vận động rõ ràng, phân minh. Những động tác trong quyền thuật mang ý nghĩa chiến đấu, trải qua rèn luyện đúc kết hình thành một chuỗi hệ thống hữu cơ hợp lí , khi biểu diễn như thế cần thể hiện được tinh thần của công thủ kết hợp với hô hấp, động tác nhịp nhàng; Khi động thì nhanh mà có lực, tĩnh thì vững như đá chôn cột đình ; Động Tĩnh cần thay đổi điều hoà. Ba yếu tố “Tinh, Khí, Thần” trong võ thuật bao hàm cái đẹp cương cường uy vũ, khiến chúng ta có cái khí thế mạnh mẽ dường như không gì cản nổi.
Còn thư pháp thì yêu cầu vận bút nặng nhẹ, Đề, Án, Đốn, Tỏa hài hoà như những nốt nhạc rung ngân. Điểm nét khinh trọng thô mảnh, mực viết khô nhạt đậm ướt biến hoá, xử lí thích hợp; Đặt bút thu bút tròn trĩnh chu đáo, làm cho nét bút có thần thái , có sức sống , có gân cốt , hàm chứa cả cái đẹp động thái lẫn tinh thần. Bố cục hàng lối chữ nghĩa ngang dọc lề lối , biến hoá thích hợp, trọng tâm bình ổn , điểm nét tương trợ , tỉ lệ hài hoà , dày thưa cân đối , cốt lấy cái ý hư thực tương sinh, thu phóng tương ứng, chữ hiện lên đầy sức sống sinh động. Một tác phẩm hoàn chỉnh cần mang đầy đủ tính chương pháp, bố cục, yêu cầu không gian đầu cuối, chữ với chữ, hàng với hàng, toàn bức một khí mà thành, gân mạch nối liền, khoảng hở đích đáng, to nhỏ thích nghi, sắp xếp biến hoá, tương hỗ lẫn nhau, phong thái nhất quán, đa dạng mà thống nhất. Một bức thư pháp để được gọi là tốt có thể khiến người xem cảm giác được sức sống, hàm chứa thần thái dồi dào, mang vẻ đẹp bút pháp, chương pháp, kĩ thuật hùng hồn, phóng đãng, duyên dáng hay hào sảng tuỳ theo từng phong cách khác nhau.
Từ những điều trên, có thể nói về hình thức bên ngoài võ thuật và thư pháp có một sự tương đồng rất lớn. Thư pháp Trung Hoa như “ Dường đứng dường ngồi, dường bay dường chạy, dường đến dường đi, dường nằm dường dậy, dường buồn dường vui, tựa côn trùng hoá lá cây, tựa kiếm sắc giáo dài thành cung xa tên lớn…(Sái Ung “Bút luận”). Võ thuật Trung Quốc động tác vững vàng như “Cây cao bóng cả”, nhanh như “Chèo bẻo đánh quạ”, duyên dáng như “Cò lả”, khéo như “Xe chỉ luồn kim”, mạnh mẽ như “ Anh hùng xuống núi”, gân cốt như “ Mèo già trèo cây”, điệu đà như “ Hoa thơm bướm lượn”.v.v... Hai đằng như thể quán thông, cùng nguồn khởi phát. Thư pháp chủ trương “Nhập mộc tam phân”, tức gân cốt, máu, thịt. Võ thuật cũng hết sức đề cao “ Xương cốt”. Đã có người lấy tứ chi và bộ khung xương người phân thành “ Ngũ cốt”, nhắc nhở cần phải có lực, sức mạnh cường tráng, kình phát ngay ngắn. Trên lí thuyết phân ra làm chưởng, bạt, trương, triển, câu, cấu, kiều, bảng.v.v… tương đương với đẩy, kéo, giang, mở, móc, gõ, nâng, nhảy…; Thư pháp đề ra phép gian giá kết cấu ngang dọc, nếu tư thế vẹo lệch, hệ thống phóng túng thì luyện cả đời viết chữ cũng chỉ bằng thừa. Võ thuật cho rằng thân phải ngay, bước phải vững, chiêu thức gọn gàng tức đòi hỏi tính chuẩn xác, hài hoà, chững chạc, nếu không thì không thể gọi là võ thuật nữa. Thư pháp yêu cầu nhìn ngó bố cục trước sau, tiền hậu tương ứng, cùng nắm, cùng chèo, có trọng có khinh, có nhu có cứng, có lộ có tàng, có hư có thực, có ngay có lệch, có ngắn có dài, có đè có nhấc. Còn động tác võ thuật luôn bao hàm Âm Dương, tức là có tiến có lùi, có cao có thấp, có trường có đoản.v.v… Để bắt đầu học võ thuật và thư pháp, người ta phải đi từ chỗ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ nông đến sâu. Võ thuật cần bắt đầu từ những động tác cơ bản, học thuộc những khuôn mẫu chính xác, sau đó mới luyện đến quyền thuật, rồi dần dần sang phần công thủ phản biến. Trong khi đó thư pháp cần bắt đầu bằng việc luyện thể chữ chính Khải chân phương mô phạm, sau đó mới đến Hành thư và Thảo thư như thể từ lẫy, bò, đi rồi mới đến chạy vậy. Thư pháp có các thể chữ Chân, Hành, Thảo, Lệ, Triện, võ thuật có Đao, Thương, Kiếm, Côn, Quyền. Thư pháp có Nhan, Âu, Liễu, Chử các danh gia đồng qui văn tự, võ thuật có Bát đại chư danh phái cùng gặp ở quyền.
Trung Hoa cổ đại có nhiều nhà thư pháp nổi tiếng xuất thân từ quyền thuật như Trương Húc đời Đường, Hoài Hi đều nhân quan khán Công Tôn Nương múa kiếm mà thăng tiến về Thảo thư. Ngược lại những nhà thư pháp trưởng thành trong võ thuật cũng có số lượng không phải là ít. Trong số đó phải kể đến thư pháp của Tôn Lộc đường, vận chuyển tự nhiên, cốt lực tiềm tàng, hùng hồn như chính quyền pháp của bản thân mình. Ngoài ra ta còn được chiêm ngưỡng thư pháp của Hà Phúc Sinh, Hải Đăng pháp sư cùng vô khối nhà võ sư- thư pháp gia khác.
Giờ chúng ta hãy xét mối quan hệ nội tại giữa thư pháp và võ thuật. Cả hai nghệ thuật này đều chú ý đến vận động của cổ tay. Ngô Đồ Nam trong tác phẩm “Quốc thuật khái luận” có nói: “ Làm thế nào để vận khí lực theo ý mình từ bàn tay sát thương được đối thủ? Chỉ cần dựa vào cổ tay mà đoán định. Nếu vai không buông lỏng thì lực không thấu đến khuỷu tay, khuỷu tay không lơi thì lực chẳng đến cổ tay, cổ tay không linh hoạt thì sao vận lực vào ngón tay được!? Thế thì đừng nghĩ đến việc đả thương đối thủ, cho nên một việc cần thiết cho việc luyện tập võ thuật là vận động cổ tay”. Việc thực hành thư pháp đề cập đến phép “Đề uyển huyền trửu” mà các cụ ngày xưa gọi nôm na là treo tay, như vậy có thể giúp cổ và ngón tay linh hoạt, có thể vận bút tự nhiên, dễ dàng điều chỉnh nặng nhẹ nhanh chậm, ý đến đâu tay theo đến đấy. Tương truyền nhà thư pháp Vương Hiến Chi khi viết chữ, bố là Vương Hi Chi nhân lúc ông không đề phòng, thò tay kéo khuỷu tay mà bút không hề máy động, Vương Hi Chi dự đoán sau này ông sẽ trở thành một nhà thư pháp lớn. Vương Hi Chi rất yêu quí giống thiên nga vì ông cho rằng sự vận động của phần cổ của giống chim này có thể giúp người tập thư pháp sáng tạo ra những phương pháp vận động cổ tay hữu hiệu, bổ ích vô cùng cho việc tập viết chữ bằng bút lông. Trong quá trình luyện tập thư pháp vì thế chúng ta có thể tham khảo những bài tập cổ tay của quyền thuật, kiếm pháp nhằm nâng cao kình lực và sự linh hoạt của cổ tay.
Nếu có thể kết hợp giữa thư pháp và Thái Cực Quyền thì đây là một tổ hợp tuyệt vời. Trong thư pháp người ta đúc kết rằng: “ Nếu thần mà không hoà, thì chữ vô hồn. Tâm mà không kiên định, chữ nghĩa không cương cường”. Trước khi viết chữ cần định Tâm tĩnh Trí, Khí tại đan điền, khi viết ý ở trước bút, một nét mà thành, khí mạch liên miên thì chữ mới sinh động, khí chạy không rời đổi, không đứt đoạn, có nhanh có chậm, có nặng có nhẹ, gồm đủ Âm Dương. Đó cũng là chủ ý của Thái Cực Quyền vậy!
Võ thuật và Thư pháp đều bắt nguồn từ đời sống lao động, qua quá trình tương hỗ song hành phát triển giữa bao nghành nghề khác, khi những bậc già nua râu tóc rưng rưng múa cho hậu nhân những đường tuyệt kĩ thì cũng là lúc họ đem tất cả những gì đúc kết lại cho con cháu đời sau, và cũng là lúc chúng ta hiểu rằng Võ thuật và Thư pháp còn chung nhau sự đam mê cháy bỏng của một đời người, bởi cả hai đều là những môn nghệ thuật, vì con người đã sinh ra và mãi cùng nhau bất diệt.
Nguyễn Hạnh. (Theo Thần kì đích vũ thuật-NXB nhân dân Quảng Tây)(Nguồn:Web site Tứ Hải Quán:http://tuhai.com.vn)
Nhật ký xuyên Việt: hiệp phụ của “Ẩm thực lộ trình”
Hành trình du khảo xuyên Việt do báo Sài Gòn Tiếp Thị khởi xướng đã kết thúc. Trước khi về Nam, anh em trong đòan làm phim của TFS chuẩn bị đi shopping lai rai ở Hà Nội thì họa sĩ Hà Bắc, một người Hà Nội chính gốc rủ đi “nhậu”. Lại uống rượu nữa thì “oải” lắm, vì suốt hành trình “ẩm thực”, trong bụng (hay là trong lòng?) anh em đã ngấm bao nhiêu thứ rượu dân gian độc đáo rồi. Thế nhưng, khi họa sĩ Họa Bắc nói chắc như bắp: "Chỗ này là văn hóa ẩm thực, là đàn ca, là chữ nghĩa. Nếu các ông không ghi hình không khéo về Nam lại trở ra bổ sung đấy” thì chúng tôi lại phát “thèm”. Tin người họa sĩ phim hoạt hình, cũng là người làm phim, chúng tôi lại lên đường.
Hiệp phụ ở một làng quê Hà Nội
Nguyễn Hạnh giới thiệu tiền cổ
Làm phim cũng giống như cất nhà, dẫu có kịch bản, bản vẽ chính xác đến mấy cũng phải “đẻ” ra thêm, huống gì đây là ký sự đường dài, nhiều tập. Và cũng như đá banh, đôi khi cũng phải có thêm hiệp phụ.
Cuối Thu, đầu Đông, thời tiết Hà Nội thật tuyệt vời. Nhà “đài” nói ngày nắng, không mưa, nhiệt độ 24 – 25 độ C, nhưng chúng tôi có cách dự báo khác. Tiết trời mát trong đang tiễn chúng tôi những cảnh quay cuối cùng như một điềm lành hết sức có hậu ban tặng cho cả hành trình. Chiều đang đi về phía hoàng hôn, phía mặt trời đỏ ối trên mặt hồ Tây. Quay phim Huỳnh Lâm đưa ống kính ra khỏi cửa xe, như chìa một cái bắt tay hết sức thân thiện cám ơn thần mặt trời đã ban cho chúng tôi đủ loại ánh sáng đẹp trong suốt chuyến đi.
Xuống đê Yên Phụ, rẽ về hướng bờ sông Hồng, mặt đất như thấp dần và phố nhà cũng thấp dần. Một làng quê Bắc bộ dần hiện ra với gạch mộc làm tường nhà, rau muống làm ao nhà. Tứ Hải Quán tọa lạc trong cái yên bình ấy, trong lòng một Hà Nội ngày thêm ồn ào. Tên đầy đủ bằng tiếng Hán Nôm gia chủ đặt cho quán là “Tứ hải giai huynh đệ” có nghĩa là tất cả đều là anh em. Hải còn là tên của ông chủ - Trịnh Vân Hải vừa tròn 40 tuổi. Ông chủ vừa cài khuy áo bằng vải thổ cẩm, vừa nói:
“Chúng em là bạn bè với nhau, góp ý tưởng với nhau mở quán. Hải thì có rượu. Từ rượu gốc ở Lạc Đạo ở Văn Lâm, Hưng Yên, em dựa vào những bài thuốc cổ mới pha chế thành hơn 20 loại rượu khác nhau, vừa đặt tên theo vị, vừa đặt theo công dụng. Như rượu Phục thần giúp cải thiện stress. Rượu Hoa cúc, vừa mát, vừa thơm. Rượu Hoàng tửu, không chưng cất mà chỉ lên men, dùng cho phụ nữ. Nói chung, rượu không khó uống như thuốc, mà công dụng của rượu được nâng lên. Vừa có “thuốc” vừa có rượu”.
Mồi chủ yếu là côn trùng chiên như: châu chấu, tầm, dế, bọ xít…
Các “liền anh, liền chị” đang hát quan họ.
Một chàng trai trẻ măng, da trắng trẻo, gương mặt chữ điền, trong bộ áo dài, khăn đóng bước vào, trên tay là một xấp chữ Nho được cắt khoanh tròn. Gia chủ liền giới thiệu: “Đây là ông thầy đồ Nguyễn Hạnh, 26 tuổi.” Nguyễn Hạnh xòe xấp giấy ra: “Xin giới thiệu với các bác, đây là câu đối dán ở cổng để quay phim đây – Hải đọc luôn – TỨ HẢI QUY TÂM QUẢNG – TAM GIANG ĐOẠT NGHỆ TRƯỜNG". Hải mượn ý của người Trung Hoa cổ: Sinh ý hưng long thông tứ hải, có nghĩa là rộng lớn, phồn thịnh, mọi người đến với nhau bằng tấm lòng. Điều đó giống với trường suy nghĩ của nhiều thế hệ. Cũng như thi hào Nguyễn Du từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nghe thích quá, Đạo diễn Vũ Hoàng xin ông thầy đồ Hải một chiếc chiếu bông, để ông đồ trẻ múa may chữ nghĩa. Còn quay phim Huỳnh Lâm thì đặt đèn từ ngoài cửa sổ chiếu vào. Chen qua song cửa, ánh sáng tạo thành từng vệt làm cho không gian thêm sâu và tĩnh lặng.
Đứng ngoài nhìn đồng nghiệp ghi hình tôi chợt nghĩ: Bao nhiêu ý thơ xưa chợt lóe lên bên chén rượu? Bao nhiêu tấm thịnh tình mà con người từng gởi vào thức ăn ngon? Và giờ đây, bao nhiêu cảnh quay đẹp cho chuyến du khảo văn hóa ẩm thực này? Rồi còn nữa, khi tất cả hơn 100 giờ băng ghi hình được biên tập lại thành một chỉnh thể, các tác giả phim sẽ biến công sức mình thành những ý tưởng hay.
Nhậu cũng có chủ đề
Cổng vào Tứ Hải Quán
Hiệp phụ của chuyến du khảo thêm sang trọng khi gia chủ kể về những đêm nhậu có chủ đề. Như “Đêm rẻo cao” tái hiện một góc phiên chợ vùng cao, uống rượu bên nồi thắng cố, một loại lẩu thịt ngựa . Mọi người đến đây trả tiền cho quán bằng tiền cổ, tiền xu, qui đổi theo tiền hiện tại. Rồi “Đêm đom đóm” vừa nhậu vừa nhìn 200 con đóm nhân tạo mà cảm cái tính cần cù, chịu khó vốn có của con người, đôi lúc lẻ loi nhưng vẫn tràn đày niềm hy vọng. Rồi nữa, “Đêm lều chõng”, người nhậu làm sĩ tử ứng thí thơ phú.
Sẽ quá dong dài khi nói về các “liền anh, liền chị” tay nâng chén rượu, hát quan họ cổ, không có đàn trong đêm nay. Sẽ không thể tả được bằng lời cho cái âm thanh phát ra từ chiếc đàn môi của nghệ sĩ trẻ Nguyễn Đức Minh, lấy ra từ chiếc túi áo ngực mà “phập phều” đôi gò má. Đến đây để vui với bạn, để sống được càng nhiều càng tốt những gì cha ông mình từng sống, từng uống rượu, từng ăn ngon. Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích Hịch uống rượu, do chính Nguyễn Hạnh bái đề nơi khuất lão động chủ này hồi năm ngoái mà theo yêu cầu của đạo diễn, anh đứng lên cao hứng:
Bầu rượu Phục Thần
Nghệ sĩ Nguyễn Đức Minh thổi kèn môi
“Anh em ta vốn họ Rồng Tiên
Nên trai tráng thưòng hay uống rượu
Xưa gặp khó nên đành bó tay chịu
…
Nước Việt Nam đường đất còn dài
Này nhìn xem thức nhắm còn dài...
Mới hay hiểu biết ta còn khiếm khuyết
…
Xin các anh em hào kiệt. Hãy giữ lòng bền lâu. Trước thích say sưa, sau thích say sưa, sao cho khỏi nửa đường đứt gánh.
Lại xin chớ phân bì giàu sang hèn kém. Hoặc quan to kẻ mọn hay tân tiến hủ nho.
Chớ nên hiềm khích so đo, hoặc rượu đắng hoặc sâm qui, bởi rượu nào cũng là thức bổ.
Chan hòa như thế ngại chi chẳng gặp bạn hiền.
…
Hãy đến đây nhảy múa hát ca
…hãy nâng nào chúng ta cùng uống
Vái lời trên ban xuống
Nay chép tỏ tường cho dân chúng cùng hay!”.
Bài, ảnh: Trần Chí Kông
Hành trình du khảo xuyên Việt do báo Sài Gòn Tiếp Thị khởi xướng đã kết thúc. Trước khi về Nam, anh em trong đòan làm phim của TFS chuẩn bị đi shopping lai rai ở Hà Nội thì họa sĩ Hà Bắc, một người Hà Nội chính gốc rủ đi “nhậu”. Lại uống rượu nữa thì “oải” lắm, vì suốt hành trình “ẩm thực”, trong bụng (hay là trong lòng?) anh em đã ngấm bao nhiêu thứ rượu dân gian độc đáo rồi. Thế nhưng, khi họa sĩ Họa Bắc nói chắc như bắp: "Chỗ này là văn hóa ẩm thực, là đàn ca, là chữ nghĩa. Nếu các ông không ghi hình không khéo về Nam lại trở ra bổ sung đấy” thì chúng tôi lại phát “thèm”. Tin người họa sĩ phim hoạt hình, cũng là người làm phim, chúng tôi lại lên đường.
Hiệp phụ ở một làng quê Hà Nội
Nguyễn Hạnh giới thiệu tiền cổ
Làm phim cũng giống như cất nhà, dẫu có kịch bản, bản vẽ chính xác đến mấy cũng phải “đẻ” ra thêm, huống gì đây là ký sự đường dài, nhiều tập. Và cũng như đá banh, đôi khi cũng phải có thêm hiệp phụ.
Cuối Thu, đầu Đông, thời tiết Hà Nội thật tuyệt vời. Nhà “đài” nói ngày nắng, không mưa, nhiệt độ 24 – 25 độ C, nhưng chúng tôi có cách dự báo khác. Tiết trời mát trong đang tiễn chúng tôi những cảnh quay cuối cùng như một điềm lành hết sức có hậu ban tặng cho cả hành trình. Chiều đang đi về phía hoàng hôn, phía mặt trời đỏ ối trên mặt hồ Tây. Quay phim Huỳnh Lâm đưa ống kính ra khỏi cửa xe, như chìa một cái bắt tay hết sức thân thiện cám ơn thần mặt trời đã ban cho chúng tôi đủ loại ánh sáng đẹp trong suốt chuyến đi.
Xuống đê Yên Phụ, rẽ về hướng bờ sông Hồng, mặt đất như thấp dần và phố nhà cũng thấp dần. Một làng quê Bắc bộ dần hiện ra với gạch mộc làm tường nhà, rau muống làm ao nhà. Tứ Hải Quán tọa lạc trong cái yên bình ấy, trong lòng một Hà Nội ngày thêm ồn ào. Tên đầy đủ bằng tiếng Hán Nôm gia chủ đặt cho quán là “Tứ hải giai huynh đệ” có nghĩa là tất cả đều là anh em. Hải còn là tên của ông chủ - Trịnh Vân Hải vừa tròn 40 tuổi. Ông chủ vừa cài khuy áo bằng vải thổ cẩm, vừa nói:
“Chúng em là bạn bè với nhau, góp ý tưởng với nhau mở quán. Hải thì có rượu. Từ rượu gốc ở Lạc Đạo ở Văn Lâm, Hưng Yên, em dựa vào những bài thuốc cổ mới pha chế thành hơn 20 loại rượu khác nhau, vừa đặt tên theo vị, vừa đặt theo công dụng. Như rượu Phục thần giúp cải thiện stress. Rượu Hoa cúc, vừa mát, vừa thơm. Rượu Hoàng tửu, không chưng cất mà chỉ lên men, dùng cho phụ nữ. Nói chung, rượu không khó uống như thuốc, mà công dụng của rượu được nâng lên. Vừa có “thuốc” vừa có rượu”.
Mồi chủ yếu là côn trùng chiên như: châu chấu, tầm, dế, bọ xít…
Các “liền anh, liền chị” đang hát quan họ.
Một chàng trai trẻ măng, da trắng trẻo, gương mặt chữ điền, trong bộ áo dài, khăn đóng bước vào, trên tay là một xấp chữ Nho được cắt khoanh tròn. Gia chủ liền giới thiệu: “Đây là ông thầy đồ Nguyễn Hạnh, 26 tuổi.” Nguyễn Hạnh xòe xấp giấy ra: “Xin giới thiệu với các bác, đây là câu đối dán ở cổng để quay phim đây – Hải đọc luôn – TỨ HẢI QUY TÂM QUẢNG – TAM GIANG ĐOẠT NGHỆ TRƯỜNG". Hải mượn ý của người Trung Hoa cổ: Sinh ý hưng long thông tứ hải, có nghĩa là rộng lớn, phồn thịnh, mọi người đến với nhau bằng tấm lòng. Điều đó giống với trường suy nghĩ của nhiều thế hệ. Cũng như thi hào Nguyễn Du từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nghe thích quá, Đạo diễn Vũ Hoàng xin ông thầy đồ Hải một chiếc chiếu bông, để ông đồ trẻ múa may chữ nghĩa. Còn quay phim Huỳnh Lâm thì đặt đèn từ ngoài cửa sổ chiếu vào. Chen qua song cửa, ánh sáng tạo thành từng vệt làm cho không gian thêm sâu và tĩnh lặng.
Đứng ngoài nhìn đồng nghiệp ghi hình tôi chợt nghĩ: Bao nhiêu ý thơ xưa chợt lóe lên bên chén rượu? Bao nhiêu tấm thịnh tình mà con người từng gởi vào thức ăn ngon? Và giờ đây, bao nhiêu cảnh quay đẹp cho chuyến du khảo văn hóa ẩm thực này? Rồi còn nữa, khi tất cả hơn 100 giờ băng ghi hình được biên tập lại thành một chỉnh thể, các tác giả phim sẽ biến công sức mình thành những ý tưởng hay.
Nhậu cũng có chủ đề
Cổng vào Tứ Hải Quán
Hiệp phụ của chuyến du khảo thêm sang trọng khi gia chủ kể về những đêm nhậu có chủ đề. Như “Đêm rẻo cao” tái hiện một góc phiên chợ vùng cao, uống rượu bên nồi thắng cố, một loại lẩu thịt ngựa . Mọi người đến đây trả tiền cho quán bằng tiền cổ, tiền xu, qui đổi theo tiền hiện tại. Rồi “Đêm đom đóm” vừa nhậu vừa nhìn 200 con đóm nhân tạo mà cảm cái tính cần cù, chịu khó vốn có của con người, đôi lúc lẻ loi nhưng vẫn tràn đày niềm hy vọng. Rồi nữa, “Đêm lều chõng”, người nhậu làm sĩ tử ứng thí thơ phú.
Sẽ quá dong dài khi nói về các “liền anh, liền chị” tay nâng chén rượu, hát quan họ cổ, không có đàn trong đêm nay. Sẽ không thể tả được bằng lời cho cái âm thanh phát ra từ chiếc đàn môi của nghệ sĩ trẻ Nguyễn Đức Minh, lấy ra từ chiếc túi áo ngực mà “phập phều” đôi gò má. Đến đây để vui với bạn, để sống được càng nhiều càng tốt những gì cha ông mình từng sống, từng uống rượu, từng ăn ngon. Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích Hịch uống rượu, do chính Nguyễn Hạnh bái đề nơi khuất lão động chủ này hồi năm ngoái mà theo yêu cầu của đạo diễn, anh đứng lên cao hứng:
Bầu rượu Phục Thần
Nghệ sĩ Nguyễn Đức Minh thổi kèn môi
“Anh em ta vốn họ Rồng Tiên
Nên trai tráng thưòng hay uống rượu
Xưa gặp khó nên đành bó tay chịu
…
Nước Việt Nam đường đất còn dài
Này nhìn xem thức nhắm còn dài...
Mới hay hiểu biết ta còn khiếm khuyết
…
Xin các anh em hào kiệt. Hãy giữ lòng bền lâu. Trước thích say sưa, sau thích say sưa, sao cho khỏi nửa đường đứt gánh.
Lại xin chớ phân bì giàu sang hèn kém. Hoặc quan to kẻ mọn hay tân tiến hủ nho.
Chớ nên hiềm khích so đo, hoặc rượu đắng hoặc sâm qui, bởi rượu nào cũng là thức bổ.
Chan hòa như thế ngại chi chẳng gặp bạn hiền.
…
Hãy đến đây nhảy múa hát ca
…hãy nâng nào chúng ta cùng uống
Vái lời trên ban xuống
Nay chép tỏ tường cho dân chúng cùng hay!”.
Bài, ảnh: Trần Chí Kông
TƯ LIỆU THIÊN CHÚA GIÁO TRONG KHO SÁCH CHỮ HÁN XƯA
Tư liệu Thiên Chúa Giáo trong kho sách chữ Hán xưa
Về khái niệm đạoThiên Chúa và các nhà giáo sĩ dường như lúc đầu quá xa lạ đối với những người dân bình thường. Những gì được ghi lại về giáo phái này cũng như các linh mục chỉ được thấy trong các tạp kí xưa.
Sách cổ chép: “ Người nước Bỉ đều theo đạo Gia Tô, không thờ cúng cha mẹ, chỉ tôn Thiên Chúa, phía bên hữu có giáo đường thờ Thánh Mẫu, nét mặt như con gái, tay bồng một đứa trẻ, tức Thánh Gia Tô (Jesus Christ).
Trong sách Thánh dụ quảng huấn của vua Thế Tông nhà Thanh ( 1723-1735) có dụ rằng: “Giáo Tây Dương tôn sùng Thiên Chúa…”
Sách Kiên Biều Bí Tập chép: “ Nước Đại Tây Dương ở phía Tây Trung Quốc, cách xa sáu vạn dặm. Tên đất gọi là Âu Hải Quốc...Ở xứ đó nhân dân đều thờ đạo Thiên Chúa, không ai biết đến Trung Quốc có các giáo Nho, Thích, Đạo. Thiên Chúa là chúa tể trước tiên, sinh ra người và vạn vật. Họ làm miếu để thờ phụng chung…”
Cuối đời Thế Tông nhà Minh, niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566), có người Tây Phương tên là Lợi Mã Đậu (Matteo Ricci) rủ mười người bạn vượt biển đi du lịch, đi qua hơn mười nước, qua sau vạn dặm đường, trải qua sáu năm mới đến xứ An Nam, qua biên giới vào đất Quảng Đông. Lúc đó những người đi theo đều chết cả, chỉ có Lợi Mã Đậu có thuật lạ, tài hít khí trời mà thoát hết bệnh tật. Ở Quảng Châu hơn hai mươi năm, thông hiểu cả văn tự ngữ ngôn Trung Quốc, trở thành một nhà nghiên cứu Trung Hoa nổi tiếng. Theo sách cổ thì Lợi Mã Đậu râu tía mắt xanh, nước da mặt đỏ như hoa đào, năm ngoại năm mươi tuổi mà như thanh niên đang xoan. Ông sống khiêm nhường, đúng lễ, ai cũng quý mến.
Năm Đinh Dậu niên hiệu Vạn Lịch (1597) đời Minh Thần Tông, Lý Quân Thực gặp ông ta ở đất Dự Chương, cùng nhau nói chuyện, được ông cho xem nhiều vật lạ như: Đồng Hồ Cát, Bình Pha Lê vẽ nhiều họa tiết…đặc biệt có thứ giấy như da người đàn bà đẹp được dùng đóng kinh điển của bản quốc.
Theo nghiên cứu của các nhà học giả đời trước thì ngoài Lợi Mã Đậu còn có Nam Hoài Nhân (Ferdnandus Verbiest 1623-1688), tên tự Trung Quốc là Huân Khanh, là Đôn Bá, giáo sĩ truyền giáo của giáo hội Bỉ, Ngải Nho Lược (Giuleo Aleni, người Ý), Thang Nhược Vọng (Joannes Adam Schall von Bell, người Đức)…đều là những người tinh thông học thuật từng đến Trung Quốc truyền giáo.
Chính những nhà truyền giáo như thế một thời được gọi là Tây Nho ( Học giả phương Tây) hoặc Tây Thổ Thánh Nhân ( Bậc Thánh đất Tây Phương), những người đã cho người Đông Phương chúng ta biết đến những phép toán Tam Giác Lượng, phép xem sao Zodiac (Hoàng Đạo), đồng hồ báo thức…
Xem qua những điều trên đây, chúng ta hiểu thêm hơn về đạo Thiên Chúa, con người và những bước đường lịch sử phát triển trong quá trình đến với phương Đông.
Nguyễn Hạnh
Về khái niệm đạoThiên Chúa và các nhà giáo sĩ dường như lúc đầu quá xa lạ đối với những người dân bình thường. Những gì được ghi lại về giáo phái này cũng như các linh mục chỉ được thấy trong các tạp kí xưa.
Sách cổ chép: “ Người nước Bỉ đều theo đạo Gia Tô, không thờ cúng cha mẹ, chỉ tôn Thiên Chúa, phía bên hữu có giáo đường thờ Thánh Mẫu, nét mặt như con gái, tay bồng một đứa trẻ, tức Thánh Gia Tô (Jesus Christ).
Trong sách Thánh dụ quảng huấn của vua Thế Tông nhà Thanh ( 1723-1735) có dụ rằng: “Giáo Tây Dương tôn sùng Thiên Chúa…”
Sách Kiên Biều Bí Tập chép: “ Nước Đại Tây Dương ở phía Tây Trung Quốc, cách xa sáu vạn dặm. Tên đất gọi là Âu Hải Quốc...Ở xứ đó nhân dân đều thờ đạo Thiên Chúa, không ai biết đến Trung Quốc có các giáo Nho, Thích, Đạo. Thiên Chúa là chúa tể trước tiên, sinh ra người và vạn vật. Họ làm miếu để thờ phụng chung…”
Cuối đời Thế Tông nhà Minh, niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566), có người Tây Phương tên là Lợi Mã Đậu (Matteo Ricci) rủ mười người bạn vượt biển đi du lịch, đi qua hơn mười nước, qua sau vạn dặm đường, trải qua sáu năm mới đến xứ An Nam, qua biên giới vào đất Quảng Đông. Lúc đó những người đi theo đều chết cả, chỉ có Lợi Mã Đậu có thuật lạ, tài hít khí trời mà thoát hết bệnh tật. Ở Quảng Châu hơn hai mươi năm, thông hiểu cả văn tự ngữ ngôn Trung Quốc, trở thành một nhà nghiên cứu Trung Hoa nổi tiếng. Theo sách cổ thì Lợi Mã Đậu râu tía mắt xanh, nước da mặt đỏ như hoa đào, năm ngoại năm mươi tuổi mà như thanh niên đang xoan. Ông sống khiêm nhường, đúng lễ, ai cũng quý mến.
Năm Đinh Dậu niên hiệu Vạn Lịch (1597) đời Minh Thần Tông, Lý Quân Thực gặp ông ta ở đất Dự Chương, cùng nhau nói chuyện, được ông cho xem nhiều vật lạ như: Đồng Hồ Cát, Bình Pha Lê vẽ nhiều họa tiết…đặc biệt có thứ giấy như da người đàn bà đẹp được dùng đóng kinh điển của bản quốc.
Theo nghiên cứu của các nhà học giả đời trước thì ngoài Lợi Mã Đậu còn có Nam Hoài Nhân (Ferdnandus Verbiest 1623-1688), tên tự Trung Quốc là Huân Khanh, là Đôn Bá, giáo sĩ truyền giáo của giáo hội Bỉ, Ngải Nho Lược (Giuleo Aleni, người Ý), Thang Nhược Vọng (Joannes Adam Schall von Bell, người Đức)…đều là những người tinh thông học thuật từng đến Trung Quốc truyền giáo.
Chính những nhà truyền giáo như thế một thời được gọi là Tây Nho ( Học giả phương Tây) hoặc Tây Thổ Thánh Nhân ( Bậc Thánh đất Tây Phương), những người đã cho người Đông Phương chúng ta biết đến những phép toán Tam Giác Lượng, phép xem sao Zodiac (Hoàng Đạo), đồng hồ báo thức…
Xem qua những điều trên đây, chúng ta hiểu thêm hơn về đạo Thiên Chúa, con người và những bước đường lịch sử phát triển trong quá trình đến với phương Đông.
Nguyễn Hạnh
Quê Mẹ
Tặng ĐTK, người bạn thuở thiếu thời đi xa mà nay không biết đang ở nơi đâu
Thuở bé nào góc vườn vương hạt gạo
Hoa chanh trầm tiếng nói tỉ tê
Kể câu chuyện chàng hoàng tử Ếch
Bỏ ra đi khỏi cánh ấp trưa hè
Rồi cứ ngỡ chói lòa trong ánh nắng
Lão tiều phu tốt bụng khà khà
Ham muốn vẻ tương gừng thịt tái
Muối quên mau xứ sở dưa cà
Xuống đồng bằng ai về nơi miền biển
Qua núi đồi rồi lại thảo nguyên xa
Gió mấy bận cúi xuống hôn thành bão
Cuốn tung đi mộng ước hiền hoà
Cứ lang bạt cánh buồm xưa bé bỏng
Sóng bạc đầu mà tóc chẳng còn xanh
Chỉ còn trẻ tiếng sùng trên mái vách
Lại tỉ tê tiếng ước mộng chẳng thành
Về đi thôi bình yên nơi mái rạ
Với ù ào tiếng ốc thổi hoàng hôn
Đừng quên nhé bao lời thề chum vại
Tình cà dưa bao kiếp chẳng mòn.
Nguyễn Hạnh (1/07)
TB: K ơi! Đọc được bài thơ này liên lạc ngay nhé! Bếp đỏ quê hương, những vại dưa cà mẹ muối, từng bữa cơm vẫn mặn chát mong chờ
Thuở bé nào góc vườn vương hạt gạo
Hoa chanh trầm tiếng nói tỉ tê
Kể câu chuyện chàng hoàng tử Ếch
Bỏ ra đi khỏi cánh ấp trưa hè
Rồi cứ ngỡ chói lòa trong ánh nắng
Lão tiều phu tốt bụng khà khà
Ham muốn vẻ tương gừng thịt tái
Muối quên mau xứ sở dưa cà
Xuống đồng bằng ai về nơi miền biển
Qua núi đồi rồi lại thảo nguyên xa
Gió mấy bận cúi xuống hôn thành bão
Cuốn tung đi mộng ước hiền hoà
Cứ lang bạt cánh buồm xưa bé bỏng
Sóng bạc đầu mà tóc chẳng còn xanh
Chỉ còn trẻ tiếng sùng trên mái vách
Lại tỉ tê tiếng ước mộng chẳng thành
Về đi thôi bình yên nơi mái rạ
Với ù ào tiếng ốc thổi hoàng hôn
Đừng quên nhé bao lời thề chum vại
Tình cà dưa bao kiếp chẳng mòn.
Nguyễn Hạnh (1/07)
TB: K ơi! Đọc được bài thơ này liên lạc ngay nhé! Bếp đỏ quê hương, những vại dưa cà mẹ muối, từng bữa cơm vẫn mặn chát mong chờ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
