Thứ Năm, 1 tháng 11, 2007

PHỒN THỰC

Ánh mặt trời đa dâm,
Hôn mãi bầu vú tròn...
Trái Đất...
Vắng rừng xanh...
...Trần trụi...!
Nhật thực không e ngại...!
Đắp chăn đêm ân ái Chị Hằng...!

Bởi sinh tồn Âm Dương...
Lẽ đời là như thế...
Anh yêu Bà Nữ Oa!!!
Em tìm Ông Tứ Tượng!!!

Hỏi cây Chò Chỉ cao muôn trượng!
Rễ đời bắt từ đâu???
Mong tình yêu đôi lứa...
Hoá rừng xanh mai sau!!!

Đêm nay...
Ôm em trong đêm sâu...
Hôn em cái hôn của ngàn ngày...
Nụ hôn mong mỏi của rừng xanh...
...Phồn thực!!!

Nguyễn Hạnh

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2007

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2007

TỨ HẢI QUÁN

Tứ Hải quán


Những giây phút thư giãn thú vị tại Tứ Hải quán.


Bài trí độc đáo trong
Tứ Hải quán.


Phút thư giãn của ông chủ Tứ Hải quán.

Quán Tứ Hải (quận Tây Hồ – Hà Nội) là sự kết hợp hài hòa của những ngôi nhà lá theo hệ thống liên hoàn, mang đậm dấu ấn của làng quê xưa, điểm đến cho những ai muốn thưởng thức nét độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của Việt Nam.

Một trong những điểm nhấn cơ bản trong quần thể kiến trúc của quán Tứ Hải là nhà nghỉ được làm bằng tre, gỗ, lợp cói khô, lối kiến trúc đặc trưng của làng Việt cổ: Thổ Hà, Đường Lâm... Bất cứ ai đã từng đặt chân đến Tứ Hải quán đều cảm nhận được là vẻ thanh bình, dân dã với những giây phút thư giãn thú vị, điều khó có thể tìm thấy ở chốn đô thị bụi bặm và ồn ã. Nơi đây đã là địa chỉ quen thuộc của nhiều nhóm anh em, bạn bè tụ họp ngày nghỉ cuối tuần, hay những người làm ăn xa xứ lâu ngày, tìm lại những nếp nhà lá, những bữa cơm quê thân quen thuở nào thưởng thức những làn quan họ Bắc Ninh duyên dáng, hay một khúc ca trù, một tích chầu văn... đưa con người vào chút hư ảo.

Tại Tứ Hải quán, khách hàng được thưởng thức những món ăn dân tộc được làm theo đúng cách truyền thống, cùng với hàng chục loại rượu dân tộc cổ truyền. Là người tinh thông y lý, biết bốc thuốc chữa bệnh, anh Trịnh Vân Hải, chủ nhân của Tứ Hải quán đã lang thang khắp các phố Lãn Ông, Thuốc Bắc, nơi chuyên bán dược liệu đông y đưa về những thang thuốc đã đóng đủ vị, tạo ra những bình rượu thuốc độc đáo giúp bồi bổ sức khỏe và có hương vị khó quên.

Chẳng phải là một thú chơi ngông, mọi người nhìn vào Tứ Hải quán, có thể thấy nó rất lớn nhưng đó chưa phải là tất cả dự định mà Hải ấp ủ. “Tôi đã đầu tư rất nhiều thời gian, trí tuệ vì quan trọng là cái tâm và tình yêu đối với nghệ thuật truyền thống. Làm như vậy, trước tiên là mình được hưởng, được cùng bạn bè khắp cả nước, rồi cả người nước ngoài cũng đến đây và chia vui với tôi, đó là niềm hạnh phúc” – anh Hải tự hào.

Tứ Hải quán có khuôn viên trên 600 m2, luôn mở cửa đón bất cứ ai. Chủ quán Trịnh Vân Hải sẵn lòng đón bạn bè về ngao du, sẵn lòng tự tay nấu những bữa cơm đãi khách, chuyện trò cho khách luôn cảm thấy gần gũi thân tình. Anh Hải còn đón các văn nghệ sĩ ăn ở tại đây để sáng tác, bằng một lòng hào phóng và đôn hậu. Nhiều khi anh đi lại phục vụ hăm hở như một nhân viên thực thụ, người lạ không ai nhận ra anh là chủ, cứ theo thói thường dõi mắt tìm một ông chủ quán Tứ Hải nào đó.


Một Tứ Hải quán giữa Hà thành mang đậm hồn quê.



Bài: Trí Công Ảnh: Thành Đạt

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2007

Khúc ưu tư số I

Mưa rơi rơi hay đôi hàng lệ lá
Giọt giọt âm thầm cho mặt đất nhớ mong!?
Mưa rơi rơi hay đôi hàng xuyên tim lá?!
Đỏ máu thu tê tái cánh lòng!!!

Đã bao đêm mưa rơi theo tình sử...
Tim lá vàng gió bão cuốn trôi...
Để từng thu là từng lần lá úa,
Cho lá xanh giấu vị đắng trên môi!!!

Nguyễn Hạnh

Gà - Vị thuốc bổ

Sách Y Tông Tâm Lĩnh ghi:

HÙNG KÊ NHỤC là thịt gà Trống: Không độc, ngọt ôn, động khí phong, Bổ trung, điều Vinh cùng dưỡng Vệ. Yên thai nối xương, tê dại thông.

THƯ KÊ NHỤC là thịt gà Mái: Vị chua, khí bình không độc mấy, Trừ thấp, phong hàn, bổ Ngũ lao, Bị thương, gẫy, tích khối, băng đới.




Như vậy qua đó ta thấy gà là một loại thịt rất bổ, phòng chống được chúng Ngũ Lao tức là chứng lao của năm tạng Tâm, Can, Tỳ, Thận, Phế thế cho nên có rất nhiều món ăn bài thuốc được chế biến từ gà:


Gà ác tiềm thuốc Bắc :


Gà ác nhỏ, lông trắng nhưng da ,thịt, xương đều đen thuộc giống Gallus bankiwa, máu đỏ hơn gà thường, chứa nhiều lysin. Theo Nam Dược Thần Hiệu thì xương gà ác vị ngọt, tính bình không độc, chữa hư nhược, phụ nữ băng huyết, bạch đới, đau bụng và trẻ em đi lị, không ăn được. Thịt gà ác được ưa chuộng vì bổ dưỡng, thường dùng cho người suy nhược, dưỡng bệnh, sản phụ mới sinh, hầm chung với toa thuốc bắc bổ dưỡng (hoài sơn, sinh địa, sâm, táo tàu...). Nếu kết hợp với tam thất, mật ong thì nó trở thành một món ăn bổ dưỡng không kém gì nhân sâm.

Thịt gà ác giàu axit amin, canxi, photpho, sắt, protid, lipid. Trứng tuy nhỏ nhưng tỷ lệ lòng đỏ cao đến 34%. Thịt gà ác trị thận suy, đau lưng, ra mồ hôi trộm, chân tay yếu mỏi,rất tốt cho người mới ốm dậy, phụ nữ sau khi sinh.

Gà dùng làm thuốc :

Món gà ác chưng ngũ vị (hạt sen, đại táo, đậu ván trắng, hoài sơn, mộc nhĩ) là món ăn phối hợp các chất bổ dưỡng, mạnh tì vị, giúp ăn ngon, giúp người suy nhược nhanh hồi phục .Trong đó, gà ác là nguồn protein lành, không gây dị ứng; hạt sen dưỡng tâm, bổ tì, cố tinh, trị mất ngủ, suy nhược cơ thể. Đại táo bổ dưỡng, ích khí, tồn thần, tiêu viêm, điều hòa các vị thuốc khác. Hoài sơn thanh nhiệt, ích thận, giải độc. Đậu ván trắng tức bạch biển đậu bổ tì vị, giải nhiệt trị biếng ăn, giải độc.

Gà ta bổ dưỡng hơn gà công nghiệp vì được nuôi thả, thường xuyên hoạt động nên cơ bắp săn chắc. Gà thả rong thường bới đất kiếm ăn, có được những chất cần thiết cho sự phát triển như sinh tố, khoáng chất...
Trứng gà:


KÊ TỬ THỰC gọi quả trứng gà,
Ngọt mà không độc, tính điều hoà.
Giã độc, bổ trung, tiêu chữa lị,
Yên thai, tê dại, mụn ngoài da.


Lòng đỏ trứng chứa nhiều vitamin B1, B2, PP, A, D. Trong một quả trứng, lượng vitamin D gấp 3 nhu cầu hằng ngày. Nhược điểm của lòng đỏ trứng là giàu cholesterol, gây xơ vữa động mạch, dẫn đến cao huyết áp hoặc tai biến mạch máu não. Đậu phụ chứa lexitin chống hình thành cục máu đông nên làm giảm tác hại của cholesterol. Cà chua có các chất chống oxy hóa, ngăn cản sự xơ vữa thành mạch và chống lão hóa, làm giảm các bệnh tim mạch. Hai thành phần này vừa làm tăng tác dụng bổ dưỡng của trứng gà vừa làm giảm tác dụng phụ do trứng mang lại.


Một loại thuốc bổ được chế tạo từ tinh chất gà đã xuất hiện trên thị trường với tính chất chống viêm và chống sự xâm nhiễm của virus. Nó được gọi là Essence of chicken, kích thích hệ miễn nhiễm, tăng cường khả năng phòng bệnh cho cơ thể chống lại cảm cúm, các bệnh nhiễm khuẩn khác, đồng thời làm giảm chứng huyết áp cao và ngăn chặn bệnh xơ vữa động mạch liên quan đến tuổi tác. Cách đây vài thập niên, thuốc bổ bào chế từ phôi trứng gà cũng rất được ưa chuộng.

Nguyễn Hạnh (Sưu tầm).

Cái Bình Vôi

Theo tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt cổ, Cái Bình Vôi là hiện thân của ông thần giữ của và khi người ta không dùng nữa thường treo chúng ở gốc đa hay cạnh những ngôi đền.


Có người kể cái Bình Vôi lại là hậu thân của một nhà sư độc ác bị cành đa đâm thủng bụng. Theo đó thì miệng bình là chỗ bị cành đa đâm thủng và chìa vôi là cành đa. Hình dáng phình to tượng trưng cho thân thể bị chương sình. Chất vôi cay nồng nhồi trong bình được coi như lòng cay nghiệt thù oán của kẻ tu hành. Màu đỏ của trầu quệt trên miệng Bình Vôi là máu loang ở vết thương thấu tim gan và nhà sư hoá kiếp như thế là để đời đời kiếp kiếp phải bị người đời khoét khoáy tận ruột tận lòng cho xót xa đau đớn. Cũng theo tín ngưỡng đó thì mỗi lần thay Bình Vôi mới, người ta đem chúng ra bỏ ở các gốc cây đa. Cũng có nhà để lên bàn thờ một cách tôn kính hoặc có khi Ông Bình Vôi lại được đem thờ bằng cách đem đặt trên các tường ở đình hoặc chùa.
Loại qua cách giải thích theo tín ngưỡng nhà Phật thì Bình Vôi được coi là một Bà Chúa, tượng trưng cho uy quyền của bà chủ, liên quan đến phụ nữ trong nhà. Điều này thể hiện rõ ở bà mẹ chồng khi con dâu về nhà liền mang Bình Vôi tạm lánh ra ngoài ngõ, có nghĩa là tạm lánh mà vẫn nắm giữ Bình Vôi, tức uy quyền Bà chủ.
Những nơi nào có tục ăn Trầu đều có Bình Vôi. Nước ta khắp nơi đều có tục đó, cho nên sự xuất hiện của chúng là rất phổ biến.
Thường có hai loại Bình Vôi, đều được nặn bằng đất nung. Một thứ giống như cái hũ nhỏ, cổ thắt lại, miệng loa ra và một thứ tròn, có quai xách là nơi đôi khi có đeo một lưỡi dao để rọc dầu, có miệng về một bên. Ở chỗ miệng đó, mỗi lần cho vôi vào, còn gọi là “ Cho Ông Bình ăn”, các bà ăn Trầu lâu lâu lại đắp thêm vôi vào, cho nên cứ càng ngày trông càng dẩu ra như bị ăn vả vậy.Để cho ông Bình ăn, người ta dùng cái chìa vôi nhét vào miệng. Cái chìa vôi thường làm bằng tre, cũng có chìa vôi làm bằng sắt. Có người bảo cái chìa vôi đó mỗi tối nhất thiết phải rút ra để một nơi vì như thế trong lúc ngủ Ông Bình Vôi mới có miệng mà báo mộng cho mình, nếu không làm như thế thì cái chìa vôi lấp mất cái miệng thì không mách được. Bình Vôi xưa có màu lục hay màu vàng, nâu hay được tráng men xanh trắng, cũng có lúc để mộc như gạch. Ngày nay bên Bát Tràng, những Bình Vôi được tráng men xanh đỏ tím vàng sặc sỡ, loè loẹt.
Ngoài hai loại bình vôi trên, người ta còn thấy sự xuất hiện của những Ông Bình Vôi hình quả cau, hình trứng, hình con vịt, tắc kè, kỳ đà…với nhiều chất liệu đa dạng như sành, đá, đặc biệt là bằng đồng thau. Đó chính là những đồ vật rất quí và hiếm còn sót lại cho tới ngày nay. Tuy nhiên chúng chưa phải là những Ông Bình Vôi cổ nhất.
Theo các chuyên gia, những chiếc Bình Vôi đơn giản nhất lại là những hiện vật lâu đời nhất. Đó là những bình bằng đất sét nung cỡ nhỏ, tay cầm là một cành cây nằm vắt qua miệng bình, có đầu nhọn được chạm trổ đồ án hình quả cau hoặc hình rồng. Không biết chúng đã ra đời từ lúc nào cho nên từ đó điều cần thiết là phải có một đội ngũ chuyên viên nghiên cứu nghiêm túc tham gia trong việc truy nguyên những kho báu im lặng này.Như đã có một nhà sưu tầm Bình Vôi cổ đã từng bộc bạch: “…sưu tầm đồ cổ, bình vôi cổ là sưu tầm lịch sử, tìm về với lịch sử, về với bản sắc văn hóa dân tộc và cũng là tìm về với lịch sử của chính bản thân mình...”, việc tiến hành đào sâu nghiên cứu sẽ là chìa khoá mở ra nhiều tư liệu lịch sử nói riêng và KHXH nói chung vô cùng quý giá.
Để kết thúc bài này xin dẫn lại câu trong một bài báo: “ Với nhiều loại bình vôi, niên đại và nơi sản xuất vẫn đang còn là một dấu hỏi”.

Nguyễn Hạnh

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2007

ĐÊM TRĂNG

Thiếu nữ bất cần đời làm hư trăng còn dại.
Đánh cái bạo Thị Màu cho ngực áo hớ hênh.
Tưởng ấp e đâu tóc huyền che rủ kín...
Nhưng ô hay kìa ánh Nguyệt chiếu chênh chênh!!!

Có đám Cuội trò xuống phố,
Bộ cánh choai tơ phao câu chuốt mượt mà.
Bỏ chăn trâu lồng đi hát...
Thềm hạ hồ đồ ngắm gái nhà ta!

Có anh thợ đàn hiếu sắc,
Cởi yếm Nàng Thơ vụng trộm lảy tình.
Canh khuya nghe Hằng Nga bật khóc...
Chợt nhớ em yêu diệu vợi trái tim mình!!!

Nguyễn Hạnh (Kỷ niệm một đêm trăng).

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2007

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:
(Người là đấng thống trị tất cả lòng người)


Người là Đấng thống trị tất cả lòng người, Đấng ban vận nước, tên của Người làm cho cả nước phấn chấn: Punjab, Sind, Gujrat, Maratha, Dravida, Aurisa, Bengal, Vitina, Himalya, vang vang tiếng vọng. Sông Jumna, sông Hằng tấu nhạc, đáp lời, sóng nước Ấn Độ Dương hát bài ca, ca ngợi Người, chúc mừng Người, tất cả mọi người đều mong chờ Người, cứu giúp Người là Đấng thống trị tất cả lòng người, là Đấng ban vận nước, thắng lợi dưới tên Người. Hoan hô Jaya! Hoan hô Jaya! Hoan hô Jaya Jaya Jaya Jaya Jaya!
(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: " Quốc ca:


a/ Nước cộng hòa Islam đã được thành lập, chúng ta đã có tín ngưỡng, đã có chỗ dựa. Mưa to gió lớn của cách mạnh Iran đã lật đổ kẻ áp bức xuống bùn đen. Ý nguyện của nhân dân sẽ quyết định tương lai. Chúng ta có sức mạnh vô cùng, từ sự đoàn kết và tín ngưỡng. Chân Chúa dang tay ra với chúng ta, dẫn dắt ta đánh thắng quân thù, dưới sự che chở của Goran, Iran sẽ trường tồn với trời đất.
b/ Được máu nóng của các anh hùng tưới đẫm đóa hoa tự do nở khắp mọi nơi. Tiếng hát ngợi ca cao vút tầng mây, tên các chiến sĩ của Tổ quốc ghi tạc sử xanh. Tin vào tôn giáo của nước cộng hòa, chúng ta có sức mạnh vô biên. Giành lấy tự do và phúc lợi bằng vũ khí trong tay chúng ta. Những ngày khổ nạn đã đi qua, mặt trời hạnh phúc đã chiếu rọi. Dưới sự che ch�"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:


(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)<"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:


Nhân dân Lào ta từ xưa truyền lại nồng nàn yêu Tổ quốc, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nhất trí, sức mạnh vô biên. Vai kề vai, dũng cảm tiến lên, giữ gìn sự tôn nghiêm của Tổ quốc. Nhân dân các dân tộc bình đẳng với nhau, cùng làm chủ đất nước. Chúng ta quyết không để bọn đế quốc và bọn bán nước trở lại, đồng lòng bảo vệ Tổ quốc độc lập - tự do, mãi mãi không bị xâm lăng. Kiên quyết đấu tranh giành thắng lợi, để đất nước Lào phồn vinh thịnh vượng.
(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)
"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:


Nhân dân Lào ta từ xưa truyền lại nồng nàn yêu Tổ quốc, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nhất trí, sức mạnh vô biên. Vai kề vai, dũng cảm tiến lên, giữ gìn sự tôn nghiêm của Tổ quốc. Nhân dân các dân tộc bình đẳng với nhau, cùng làm chủ đất nước. Chúng ta quyết không để bọn đế quốc và bọn bán nước trở lại, đồng lòng bảo vệ Tổ quốc độc lập - tự do, mãi mãi không bị xâm lăng. Kiên quyết đấu tranh giành thắng lợi, để đất nước Lào phồn vinh thịnh vượng.
(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)
"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:


(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: " Quốc ca:


Tổ quốc tôi, nơi tôi sinh ra lớn lên, mong cho nhân dân của Người đoàn kết kiên cường, mong Thượng đế phù hộ cho Người được an khang, mong cho nguyên thủ thống trị bốn phương một cách hòa bình. Mong Thượng đế phù hộ cho Người được an khang, mong cho nguyên thủ thống trị bốn phương một cách hòa bình.
(Theo Nguồn gốc tên gọi các nước trên thế giới - NXB VHTT)"

Netcenter - Giáo dục

Netcenter - Giáo dục: "Quốc ca:"

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2007

Ăn chay

Ăn chay là những tập quán ăn các món có nguồn gốc thảo mộc, hoa trái, không ăn những đồ ăn có nguồn gốc động vật để thực hiện đức hiếu sinh. Ăn chay chia ra làm hai loại chính: Ăn chay kỳ và ăn chay trường.
Ăn chay kỳ, là ăn chay có kỳ hạn nhất định trong một tháng hay trong một năm:
Nhị trai, ăn chay 2 ngày trong tháng (ngày 1 và 15 â.l.)
Tứ trai, mỗi tháng ăn chay 4 ngày ( 1,8, 15 và 23).
Lục trai, ăn chay sáu ngày mỗi tháng ( 1,8,14, 15,23, 29 và 30, nếu tháng thiếu lấy 28 và 29).
Thập trai, ăn chay mười ngày ( ngày 1,8,14,15,18,23,28,29,30, nếu tháng thiếu lấy các ngày 27,28,29).
Nhất nguyệt trai, ăn chay cả tháng( Tháng giêng hay là tháng bẩy â.l.).
Tam nguyệt trai, ăn 3 tháng chay( các tháng Giêng, Bảy, Chín, Mười- hoặc ăn chay liên tiếp ba tháng liền).
Ăn chay trường là cả đời ăn chay.
Ngày trước ăn chay là nhu cầu riêng của những người tu hành, nhưng lâu nay, ăn chay ngày càng được nhiều người mến mộ bởi ăn chay có thể chữa được một số căn bệnh, nhất là những bệnh mãn tính như béo phì, cao huyết áp..Ăn chay còn giúp cho chúng ta khoẻ mạnh và trường thọ, Chính vì vậy, nhu cầu các món chay ngày càng phong phú.
Nấu món chay qua nhiều công đoạn chế biến nhưng phải nhanh gọn. Chế biến phải có nghệ thuật, phù hợp khẩu vị, trình bày có thẩm mĩ. Phải biết điều chỉnh hợp lí các dưỡng chất, hương vị: Đạm,dầu, gia vị…để phát huy tác dụng của món của món chay.
Ngày nay theo một số tài liệu thì ăn chay đã có tới hàng trăm món khác nhau. Người Việt Nam có truyền thống khéo tay để làm nên các món ăn chay mang hương vị riêng, thay đổi từng bữa nên người ăn cảm thấy không bị nhàm chán mà vẫn rất hấp dẫn. Chính vì nhu cầu tăng và đa dạng về các món ăn chay mà ở một số thành phố lớn đã có nhiều nhà hàng chuyên làm món chay phục vụ khách rất nổi tiếng.Với tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam, các món chay sẽ mang đầy hương vị riêng so với các món chay của các dân tộc khác.

Nguyễn Hạnh (Tổng hợp và sưu tầm).

LOỌC CHÚC - Cháo bồ dục hươu

Hươu là một loại thú rừng thịt ngọt ôn không độc, tính khá mạnh, bổ trung ích khí, khoẻ gân xương đồng thời chữa được chứng huyết băng, phong tà.

Hươu dùng được rất nhiều bộ phận mà quen thuộc nhất là Lộc giác 鹿角 tức sừng, Lộc nhung 鹿茸 tức sừng non và gần đây trong thực đơn ở nhiều nhà hàng cao cấp còn có cả gân hươu nữa. Nhưng còn một bộ phận mà chúng ta ít thấy được nhắc đến là đôi bồ dục của nó, chỉ được dùng trên các vùng rừng núi dân tộc. Người vùng cao cho rằng ăn cháo bồ dục hươu sẽ ôn dương bổ hư, chủ trị các chứng bệnh dương khí suy nhược, lưng gối mỏi đau, yếu gân cốt, chân tay sợ lạnh, đi lại khó khăn, lãnh cung không sinh đẻ được, liệt dương, xuất tinh sớm . Sau đây xin giới thiệu món cháo Loọc chúc của bà ngoại hay nấu cho ông tôi những ngày còn làm tri châu Lạng Sơn.

Thành phần:

Bồ dục hươu 鹿腎, Nhục thung dung 肉蓯蓉, gạo tẻ 硬米, gia vị.

Chế biến:

1. Bồ dục lọc bỏ màng, thái vừa ăn. Nhục thung dung tẩm rượu, thái nhỏ.
2. Nhục thung dung đun lấy nước, cho bồ dục hươu và gạo vào nấu cháo.
3. Khi cháo chín, thêm gia vị vừa đủ đem dùng nóng.

Đây là một món cháo bổ thận khí và chữa các chứng do thận hư rất hữu hiệu.

Nguyễn Hạnh.

Bánh Mướt xứ Nghệ

Có người nói: “Ăn uống là một loại văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên”. Bởi thế với những điều kiện môi trường khác nhau, mỗi địa phương đều có tập quán ẩm thực và món ăn đặc trưng phù hợp với phong thổ của mình. Ví như nem chua Thanh Hoá, bánh Phu Thê Bắc Ninh, bánh cuốn Thanh Trì, bánh dày Quán Gánh, Bánh Răng Bừa Sơn Tây.v.v… Đi một vòng Bắc-Trung-Nam, người đi tìm hương vị món ăn không thể nào kể xiết.

Điều bài viết này muốn đề cập tới có liên quan đến một phần nhỏ trong văn hoá ẩm thực xứ Nghệ, nơi ta bắt gặp một loạt các danh từ từ Nhút Thanh Chương, Tương Nam Đàn, Ruốc Diễn Châu, Cà pháo Nghi Lộc, … Cho đến khoai Xéo, Rau lang, Hến sông Lam, Nghêu Phủ Diễn, Cá rô Bàu Nón, Cháo lươn Vinh, Bánh đúc Sa Nam, Rươi Hưng Nguyên, Chè xanh Thanh Thuỷ, Bánh gai Diễn Châu… Trong đó ai vào xứ Nghệ cũng không thể quên được một chút của Thanh Trì-Hà Nội phảng phất cái nét cương cường, khắc khổ của mảnh đất miền Trung nếu đã từng thưởng thức. Đó chính là Bánh Mướt.

Nói đến xứ Nghệ, một điều thống nhất đưa ra là: “…Nhất quyết không phải xứ sở của ăn chơi. Nhân dân anh hùng nơi đây lớn lên và sống cùng giặc giã, thiên tai, cho nên Bánh Mướt ra đời mang đặc thù tính cách của người Nghệ Tĩnh: Ăn to nói lớn. Tuy gọi là một chút của Thanh Trì nhưng không nhỏ nhẻ, mỏng manh như cái heo may ngoài Bắc, mà hào hứng nóng hổi như những ban mai đón cá về.

Chỉ ở Nghệ Tĩnh mới có bánh Mướt, thật ra chỉ là một biến dạng của bánh cuốn miền Bắc, cũng làm từ gạo xay, tráng nhân hành thịt nhưng đây là những chiếc bánh to hơn, dày dặn, quả trông như “Cái đòn xóc”. Bình thường một người chỉ cần ăn năm cái bánh Mướt là no, người khoẻ như ông hộ pháp thì cũng chỉ một tá là đủ. Nước chấm thật là đơn giản: Mắm ngon vắt chanh, pha ớt. Nếu như ở Thanh Trì chúng ta thấy những chiếc bánh mỏng trắng tinh điểm xuyết hành khô chao lửa quá bán thơm lừng, khi ăn kèm theo vài rẻo chả quế cắt ngọt thì ở đây bánh Mướt được cắt từng khoanh cho vào cùng thịt chó xào, ăn như bún xáo vậy. Ngoài ăn kèm thịt chó, bánh Mướt còn được chấm với xáo thịt cò băm viên với xả, ớt quấn lá gấc đun nước gừng hay ở chợ Dùng người ta ăn kèm với nước canh mọc thịt gà nấu đậm.

Có một lối ăn bánh Mướt kẹp với bánh Tráng ăn kèm với giò chả chấm nước mắm tỏi, ớt gọi là bánh Cặp hay bánh Đập Bẹt phổ biến ở Hà Tĩnh. Có hàng chục quán bánh Cặp ở thị xã nhỏ này mà nổi tiếng phải nói đến quán bà Quế được nhiều người lâu nay nhắc đến. Nghe nói bà chủ quán làm nghề từ lúc bảy, tám tuổi và nhờ nghề này mà bà đã xây được nhà cửa, nuôi con ăn học nên người. Nhiều người về đây công tác cũng đến quán nghèo của bà ăn bánh. Họ bảo, nhớ Hà Tĩnh, tức là nhớ quán bánh của bà.

Nhiều nơi ở xứ Nghệ làm bánh Mướt. Có thể thấy thức bánh này ở khắp các quán xá dọc đường cùng với bánh Đúc, Bún, kẹo Cu Đơ… Nhưng chỉ có một làng được nhiều người biết đến: Làng Quy Chính, gần chợ Sa Nam (Thị trấn Nam Đàn). Bà con ở đây gọi làng
này là “Làng Bánh Mướt”.

“ Ai về chợ huyện Sa Nam,
Nhớ ăn bánh Mướt cô nàng đong đưa.
Ăn năm cái bánh no vừa,
Ăn mươi chiếc bánh no cả trưa lẫn chiều.
Ăn rồi anh ngỏ lời yêu,
Cô nàng cắp thúng mà theo anh về.
Anh ăn bánh Mướt chán ghê,
Cô nàng tủm tỉm: “Đây là nghề nhà tui”!

Ở làng Quy Chính, người ta cày cấy là chủ yếu, làm bánh Mướt là nghề phụ, ấy thế mà dân lại phát tài về nghề này. Tivi, Radio, Cày bừa, trâu bò cũng từ đây mà ra cả.

Nghề làm bánh Mướt có từ lâu lắm rồi, ấy vậy mà có thời làm công khoán, nghề bị bỏ bê, chỉ lác đác vài người già theo đuổi. Nghề khôi phục lại mới hơn mười năm nay. Làng xóm nhộn nhịp, bánh Mướt nghe nói trở thành đặc sản, có trong menu của khách sạn lớn. Thậm chí lên mạng tra vào Google còn thấy cả quảng cáo thiết bị tráng hấp bánh Mướt nữa. Nhu cầu cao, tiến độ cao,nghề làm bánh Mướt giờ đây trong không khí sôi sục không còn được xay bằng cối đá như xưa mà là xay máy, tuy không ngon bằng xay tay nhưng giải quyết được phần năng suất.

Càng thu nhập cao, bà con càng vui thú sản xuất. Khoảng gà gáy canh ba, cả làng đã đỏ điện, nơi nơi đãi gạo, rộn tiếng vỗ rá, tiếng máy xay…Gà gáy canh năm là đã có mẻ bánh mang ra chợ để từ mờ sáng, có hôm đến tận chiều cứ đều đều hai công đoạn: Tráng và bán bánh. Đấy là chưa nói có những hôm đột xuất tiệc tùng, hội họp, đám cưới hỏi, người tiêu dùng còn “Tá vấn” tận nhà, công việc lại thêm phần bận rộn.

“Bánh Mướt Quy Chính đây!”...
...Tiếng rao đậm âm hưởng Thanh Nghệ báo hiệu bình minh đẹp lại về của một làng nghề.

Nguyễn Hạnh.

Lươn nồi đất

Ở Nhật Bản, những tháng hè người ta gọi là Thổ Dụng tức tháng nồi đất, thời gian đó họ thường ăn món lươn om trong nồi đất để giải khát trừ phiền. Ở Việt Nam, người ta thích nhất món lươn tháng 8.

Ngoài chợ, các bà các chị say như điếu đổ những chú lươn vàng óng, hứa hẹn chất thịt nhuần nhị và lành đất nặn. Những chú lươn này phải được nấu với củ chuối hột non rửa sạch, gọt bỏ vỏ bên ngoài, thái nhỏ thành sợi sau đó đem ngâm với nước lã cho đỡ thâm và chát.

Lươn sau khi tuốt nhớt, làm sạch, rồi chặt từng khúc ngắn, khoảng một đốt ngón tay. Củ chuối thái nhỏ, rửa sạch rồi ướp với mẻ một lúc cho ngấm, trộn với vỏ quýt, mắm tôm, ớt, hành, nước củ nghệ lọc rồi sau đó cho thêm một ít nước, bắc lên bếp đun sôi.
Có một cách bung cực kì kiệm lửa và nhanh chóng là khi lươn sôi đến độ, người ta tắt bếp cho lươn và củ chuối om trong nồi đất, sau đó để nguội bật lại đun đến khi chín bắc ra cho thêm hành và rau thơm thái thật đẹp. Mùi vị ngọt đậm hoà quyện của các gia vị thật quyến luyến, khó quên. Đừng ngại gì ăn kèm theo hạt tiêu sọ và ớt quả để thấy cái cay tuy giàn dụa mà nóng hổi, ngất ngây.

Lươn om nồi đất là một món ăn dân dã và tốt cho sức khoẻ. Nhấp một chén rượu thanh thanh, húp một muôi nước đang bùng lên sùng sục, tưởng như ta hoá thành Yết Kiêu, Dã Tượng thuở nào.

Ngày nay nhiều nơi người ta ăn lươn om với chuối xanh, cà xanh-một biến tướng của lươn của chuối om nối đất.

Nguyễn Hạnh